Phía đường chân trời

524
Ảnh: Qimono

          Đêm, thẩy những u huyền vào sóng, bầu trời thảng thốt mưa giông, vài con mòng biển le lói ngóng những lời yêu truyền kiếp. Có những điều ai nào biết, biển thở dài đợi ban mai. Còn ai và ai, xa xa ở phía đường chân trời.

Những quầng mây trên màn hình rada chụm lại với nhau như những tán lá cây mà người họa sỹ quên vẽ cành vẽ ngọn, chỉ có những đám lá màu xanh thẫm đợi thêm gió để mà tức tưởi. Và mưa mỗi lúc một lớn, nó gõ cồm cộp dồn dập vào cửa kính như một ông khách quê mùa chẳng mời mà đến. Gió ném gió giật vào vách, cabin như một cái hộp đàn cộng hưởng cứ ù ì ghê rợn. Cái gạt nước cứ chen chúc nước mưa, dẫu vậy thì đôi mắt tôi và Hoàng chỉ nhòa thêm mù tịt, nhìn ra phía trước mặt ngoài kia bằng một thứ mẫn cảm của người đi biển.

Thời tiết quá xấu không thể đặt chế độ lái tự động. Đang căng mắt nhìn về phía trước và tập trung nắm cái tay trang điều khiển, bỗng nghe Hoàng lệnh như quát: Hết lái phải!!!

Cái tiếng “phải” được Hoàng phát ra như một lời hô hoán, trăng trối. Tôi chẳng nhìn được gì từ phía trước bằng mắt thường cũng như trên màn hình rada, nhưng thủy thủ thì luôn phải tuân lệnh sỹ quan trên buồng lái, hơn nữa linh cảm mách bảo Hoàng đang đúng.

Chưa đầy một phút sau Hoàng lại hét lớn: Hết lái trái!!!

Lần này thì tôi đã nhận ra mục tiêu ở phía bên hông mạn trái tàu, cú bẻ hết lái trái nghĩa là chúng tôi đang nắm phần chủ động. Trong khoảnh khắc cái lái tàu re sang bên phải và mục tiêu trôi về phía sau lái tàu quay vòng vào những xoáy nước gầm gào trắng xóa. Hoàng quay đèn ra phía sau, ánh sáng trắng của pha đèn tìm kiếm công suất lớn xé thủng làn mưa dày đặc để hiện ra trong bốn con mắt thất thần hình ảnh một ông già mặc áo mưa, đội nón lá sơn đen, hai tay chống sào và con thuyền câu bé xíu. Chừng như chưa đầy vài cái chớp mắt, chiếc thuyền câu tội nghiệp và ông già lẩn khuất vào mưa, vào sóng, vào những hố đen của biển. Và cái miếng vá màu đỏ trên chiếc áo mưa màu xanh của ông già cứ thấp thỏm chập chừng bóng đêm.

Hoàng và tôi lặng im, con tàu lầm lũi bò như một con rùa rụt cổ, mưa nhạt dần, bầu trời như một chiếc váy thủng để lộ dần thứ ánh trăng bành bạch dị tật. Trăng ở biển thường là đẹp lắm, nhưng sau cơn giông gió trăng như một người đàn bà qua tuổi xuân thì, nhợt nhạt khóe cười, lười biếng đam mê.

Ít phút sau, Hoàng nhồi vào không gian im vắng bằng cái giọng dư thừa năng lượng: Cẩn thận, chú ý phía mũi tàu.

                 Lần này thì tôi đã sớm nhận ra cái mục tiêu đang di chuyển phía mũi tàu, tôi bẻ sang trái rồi khi tiếp cận mục tiêu thì bẻ hết sang phải. Hoàng lại xoay pha tìm kiếm rọi về phía lái tàu. Trời ạ lại là ông già đó, lại là chiếc thuyền câu đó. Lẫn trong ánh trăng quái gở và ánh đèn pha công suất lớn nhăn nhở, hình ảnh ông già hiện ra còm cõi tay vin sào, đầu đội nón lá sơn đen, áo mưa xanh có mảnh vá màu đỏ bên vai… Có vẻ như ông ngước nhìn chúng tôi rồi cười thằng thặc, rồi một hai cái chớp mắt ông già và chiếc thuyền câu xoay vòng theo những cột nước, mất dạng phía sau mịt mùng.

Tôi còn đang rối tung vì câu hỏi tại sao lại là ông già ấy, không lẽ khoảng thời gian đó tàu chúng tôi đã chạy ngược lại thì Hoàng hốt hoảng: Kiểm tra độ sâu!

– Anh ơi 145m

Khi vừa trả lời xong cũng là lúc tôi rùng mình hiểu ra được vẻ hốt hoảng của Hoàng. Tôi đánh rơi chai nước suối vừa khui nắp chưa kịp đưa lên miệng xuống sàn. Nước vãi ra bắn lên cả trán tôi, nơi mà những giọt mồ hôi đang run lập cập tứa ra.

                Vùng biển chúng tôi đang đi qua cách bờ hàng trăm hải lý, không thể tồn tại một chiếc thuyền câu bé tẹo của ông già. Mà cứ cho là có thể có đi thì tại sao ở vùng nước sâu 145m ông già lại chống sào như trong kênh rạch đẩy thuyền đi băng băng.

Hoàng vẫn lặng im, rút thuốc kéo vài hơi đỏ nòng. Tôi cũng phì phèo vài khói hòng xua tan những run rẩy trong lòng. Gió bớt than vãn, mưa ngừng hẳn dập dồn, bầu trời lại trong veo như những tháng ngày mà tôi và Hoàng đã đi qua. Quay sang tôi anh rỏn rẻn: Dũng này, chuyện đêm nay chỉ hai anh em mình biết thôi nhé! Tôi ngoan hiền: Dạ anh!

                Tôi và Hoàng là những kẻ cơ duyên, quen nhau và làm việc cùng nhau mười mấy năm trời, từ cái thời chúng tôi ươm mộng trên những con tàu viễn dương đến cái thời buộc chân co cẳng vào cái công ty tàu dịch vụ dầu khí này.

Hoàng lắm tài, nhiều tật, xưa kia từng là một tay nghiện chúa, ấy vậy mà Hoàng từ bỏ được nó, kỳ tích mà người ta thường nói cả ngàn người may ra có một người. Vậy nhưng đời anh cứ lận đận, thỉnh thoảng vẫn nghe một vài con chim lợn trong cơ quan than thở: đã nghiện thì làm sao mà bỏ được. Nhiều khi thương anh quá tôi bảo: Anh ạ để em tệt tòe mỏ mấy con chim lợn này rồi muốn ra sao thì ra. Hoàng gạt đi rồi cười hiền: Mày toàn tào lao bí đao!

                Sáng hôm sau chúng tôi đã di chuyển đến vùng biển Nam Côn Sơn để phía khách hàng thực hiện việc lấy mẫu phục vụ cho nghiên cứu môi trường. Tôi cũng không quan tâm nhiều, chỉ biết đó là công việc đánh giá  liên quan tới tác động của việc khai thác dầu mỏ đến thiên nhiên. Theo kế hoạch chúng tôi sẽ dừng lại ở 15 điểm, mỗi điểm cách nhau từ 10 đến 20 hải lý để thả gầu lấy mẫu. Dự án kéo dài từ 10 đến 15 ngày phụ thuộc vào tình hình thời tiết. Hôm tàu vừa rời cảng chừng mươi phút, tôi lướt qua Facebook đã thấy Hoàng để lại dòng trạng thái: “Số vất vả. Mấy năm, được dịp đi cạp đất, khởi hành đúng buổi gió mưa chấp chới.”

Buổi sớm biển ửng hồng hổn hển, đàn cá tay áo vừa dậy thì thành công tung tăng quẫy, dung dăng đạp, rồi hớn hở nhảy đua lọp chọp hai bên mạn tàu. Đội lấy mẫu đất môi trường có tám người cả thảy, họ chia làm hai nhóm, mỗi nhóm bốn người, bốn người một ca thay nhau.

                Tàu ổn định vị trí, chiếc gầu bằng thép trắng nhập nguyên bộ từ Anh Quốc bắt đầu được thả xuống. Hoàng gọi nó là cạp đất, có lúc còn nói chơi làm tôi tưởng thật: Chú mày làm việc dưới boong quan sát để ý, lúc chúng nó kéo đất lên sàng cát rồi bỏ vào hũ, cố nhìn xem có vàng hay mảnh thiên thạch nào không.

Tôi cả buổi chạy qua chạy lại dưới boong, có lúc còn hăm hở bê cái rổ đựng những gì mà cái cạp đất lôi lên giúp đội môi trường. Họ cho vào cái sàng, xối nước cho bung hết cát khỏi khay, tôi ngó nghiêng những thứ còn lại, mẻ nào cũng như mẻ nào, chỉ toàn vỏ sò vỏ nghêu chứ làm quái quỷ gì có vàng. Đám vỏ sò vỏ nghêu ấy được cho vào các hũ nhỏ, vặn chặt nắp, đánh số rồi bỏ vào phòng lạnh bảo quản.

Chốc chốc tôi lại thấy nhà bếp bê ra nào dưa hấu, nào táo, nào lê, nào sữa cho đám môi trường lấy mẫu ngoài boong. Thằng Khanh trưởng nhóm vừa chỉ huy lấy mẫu, cái miệng cứ lẹp bẹp nhai bánh, đôi chân thỉnh thoảng nhún nhảy theo điều nhạc rồi mở mồm luyên thuyên: Cục sì lầu ông bê lắp.

                  Huân bếp trưởng nói với tôi: bọn này ăn như tằm chú ơi, nhưng mà thôi, lâu lâu mới đi một chuyến, cố mần hề. Nói rồi Huân lẩm nhẩm tính 15 ngày công biển xem được bao nhiêu tiền rồi quay sang tôi: cũng mua được mấy lon sữa cho sắp nhỏ chú ạ.

Ảnh: Nguyễn Hải

Buổi tối, tôi mang cái bộ đàm lên buồng lái nạp pin, đã thấy Hoàng đang đứng cạnh thuyền trưởng nghe ông than thở: Nếu tất cả là 15 điểm thì mỗi điểm chỉ cần lấy 8 mẫu thôi, đằng này chúng lại lấy những 36 mẫu. Như vậy chúng sẽ bỏ bớt điểm, anh em mình lại về sớm rồi bay ơi, lấy đâu ra mà 15 ngày, lại bị chúng lừa rồi. Giả dối.

                  Tôi nghe loáng thoáng nhưng cũng ngầm hiểu rằng đội môi trường sẽ lấy mẫu của điểm A gán cho điểm B điểm C thay vì phải trực tiếp điều tàu đến vị trí B và C để lấy mẫu. Điều này sẽ rút ngắn thời gian, tư túi được tiền dự án và tất nhiên những con số thống kê nghiên cứu về môi trường sẽ chẳng thể nào chính xác.

                  Câu chuyện của Hoàng và thuyền trưởng lại khiến tôi nhớ lại mấy năm trước đây, cũng vào mùa tây nam, cũng ở vùng Nam Côn Sơn này, chúng tôi chạy tàu phục vụ dự án rà phá bom mìn của công ty X. Bữa ấy chúng tôi đã được mở mang tầm mắt với những xảo thuật nhà nghề của lính công binh. Những quả bom cỡ lớn đã tháo kíp được người ta cấy ghép lên những vỏ hàu, rong rêu rồi thả xuống biển, phủ cát lên và đánh dấu vị trí. Việc còn lại là chạy tàu đến những vị trí đó thả robot xuống gắp lên.

Chuyến đi ấy có một gã Tây kỹ sư điều khiển robot được công ty X thuê, thỉnh thoảng sau giờ làm việc gã lại dạo vòng vòng quanh boong chính rồi tâm sự với tôi: Người Việt Nam chúng mày giỏi quá, tàu dừng ở vị trí nào, thả robot xuống là kiểu gì cũng có bom mìn ở dưới. Bữa ấy gã Tây còn hớn hở đứng cạnh mấy quả bom để đám người rà phá bom mìn quay phim chụp ảnh làm báo cáo dự án. Tôi bảo với mấy anh em thủy thủ: “Ai cũng hiểu, chỉ mình Tây không hiểu, nên có một gã khờ…”

                 Dự án rà phá bom mìn năm ấy theo kế hoạch phải diễn ra cả tháng trời, nhưng với sự tài tình nhanh trí của công ty X chúng tôi làm việc vỏn vẹn có 5 ngày trời. Thuyền trưởng nói với mấy thằng ngày ngày lẩm nhẩm tính công biển: Bị lừa rồi bay ơi!

                Sáng hôm sau từ tờ mờ bếp trưởng đã dậy nổi lửa, mùi phở bò, mùi bún Huế thơm phức đánh thức những cái bụng háu ăn. Thằng Hải thợ máy cho nguyên cả con mực đềnh đoàng mới câu vào tô mì, vừa ăn nó vừa nhấm nhẳng: nhớ vợ quá, nhẽ lại để dành cho vợ cái râu mực.

Trời đang thăn thắt xanh đến khoảng 9 giờ ngòm ngầu thâm xì, giông gió từ đâu gùn gào ập tới, máy đo gió chỉ báo 40 knot. Lệnh từ thuyền trưởng bộ phận lấy mẫu môi trường ngưng làm việc khẩn trương vào vị trí an toàn. Tàu vừa quay lấy hướng gối sóng thì bất thần một cơn sóng sâu chân nhấn cái lái tàu nhíu xuống, nước và sóng thừa cơ xúc mạnh lên boong, cái gầu thép trắng dự phòng để cuối đuôi tàu theo dòng nước rút chực nhào xuống biển. Tôi không biết từ đâu Hoàng phi thân ra boong mặc dòng nước đang đổ nghiêng ngang thắt lưng, nhanh như chớp anh tung cái móc có buộc dây thừng về phía cái gầu. Trong chớp mắt cái gầu được giữ lại nhưng Hoàng cũng nằm sõng soài ra boong, nếu thuyền trưởng không đổi hướng kịp rất có thể anh đã bị nước cuốn trôi xuống biển. Hú hồn. Không một tiếng vỗ tay, không một lời tán thưởng, chỉ nghe tiếng thuyền trưởng oang ổng trên loa truyền thanh: thằng mắc dịch kia, bay muốn chết chùm hả…

               Tôi chạy ra đỡ Hoàng đứng dậy rồi chằng buộc cái gầu cạp đất bằng thép trắng nhập nguyên bộ của Anh Quốc vào vị trí an toàn. Vừa làm tôi vừa thủng thẳng: Anh à, anh liều quá, xém chút nữa là sóng nó phang anh xuống biển rồi, anh làm vậy được gì đâu, anh cứu vớt sự giả dối hay sao?

Hoàng phân trần: Biết thế, nhưng cái gầu đó phải nhập từ nước ngoài trị giá cả mấy chục ngàn đô, rớt xuống biển thì uổng quá…

              Một ngày, hai ngày, rồi năm ngày tàu chúng tôi chỉ hành trình tới 8 điểm để lấy mẫu mà không phải là 15 điểm như trong kế hoạch. Thuyền trưởng và Hoàng đã đoán đúng. Tối hôm ấy tàu tổ chức liên hoan cho thuyền viên và phía khách hàng giao lưu, đánh dấu cho sự hoàn thành của dự án. Mọi người uống rầm rầm, riêng Hoàng không uống lấy lí do khuya phải đi ca, tôi cũng chỉ uống vài lon cầm chừng.

Khuya ấy tôi và Hoàng lên ca, con tàu lặng lẽ gối sóng nhắm thẳng về phía mũi Vũng Tàu. Xa xa kia là mỏ Lan Tây, mỏ Đại Hùng, mỏ Rồng Đôi, những tháp đuốc bừng sáng cả một vùng biển trời tổ quốc. Nhiều khi tôi chạnh lòng, nhìn những tháp đuốc cháy sáng từ phía mỏ tôi hình dung như những người lính đứng gác tổ quốc linh thiêng. Tôi đi qua những ao hồ chật chội, đi qua những cửa sông cửa biển thơi thới, đi ra những đại dương trừng trừng mở mắt, nơi nào chẳng vụn vặt khát khao.

                            Ánh sáng từ những bó đuốc chốc lát chỉ còn le lói, bầu trời nhòe trăng chớp sao, mưa giông lại ùn ùn tăng tốc trên máy đo gió. Không hiểu vì khí lạnh từ ngoài ùa vào hay vì những câu chuyện ở vùng mỏ này cứ ám ảnh tôi khiến da gà nổi loạn. Trong không gian im vắng chỉ lõm bõm tiếng nhiễu động radio tôi nghe Hoàng thở dài: Cẩn thận phía mũi tàu.

Mưa mỗi lúc một lớn, gió mỗi lúc một mạnh, dường như chúng đang cố gom góp những thế lực siêu nhiên hỗn mang để mà gầm gừ để mà bành trướng. Mồ hôi hoảng loạn trên trán tôi lại như đang tứa ra, bất giác tôi lại nhìn thấy ông già đội nón sơn đen, khoác tấm áo mưa màu xanh có mảnh vá màu đỏ trên vai. Tay chống sào băng băng ông ném cái nhìn khinh miệt về phía chúng tôi rồi ngẩng đầu cười thằng thặc. Bóng thuyền đen thẫm, bóng người hư vô, xa xa kia là phía đường chân trời.

Chim báo bão

Hồ Huy
Đừng ước nữa tôi chỉ muốn làm một điệu khèn thôi để nhảy nhót những tháng năm này, giữa vùng trời này.

Bình luận