Nước mắt, thuyền, biển và sóng

(Viết cho kẻ phiêu bạt hơn 20 năm trời Âu trở về)

Thế là hắn kéo vali đi. 
Cái vali chưa đầy ba mươi kí. Hai chiếc ba lô, một chiếc đeo lưng, một chiếc xách tay. Chuyến du học nước ngoài đầu tiên ở tuổi hai mươi tư. Ừ tuổi hai mươi tư đâu còn bé mà sao cái hành trang của hắn nhẹ tênh, trống trải vậy?

Chỉ đọng lại những giọt nước mắt của mẹ đè nặng tim hắn. Cha hắn còn biền biệt đâu đó từ chục năm nay. Âu cũng là một số phận con người.

Ôm mẹ vào lòng. Một ước ao rình rập bao nhiêu năm mà ngay cả trước giờ xa mẹ hắn cũng không thể làm việc đó. Và mẹ hắn nữa, sao mẹ không ôm hắn vào lòng mà cứ bịn rịn giấu hai hàng nước mắt, tay chống bức tường bung vôi trát, trơ ra những viên gạnh mốc. Bức tường cổng nhà cũng loang lổ, chắp vá như cuộc đời bà.

“Con đi đây u à!”.
Hắn lên xe.

Đến sân bay, nhìn những vali hành lý quấn chặt bằng băng keo nâu, kẻ đón, người đưa, tấp nập, nghe những tiếng sụt sịt của kẻ ở, người đi, hắn thấy cũng tủi.

Hà Nội – Bangkok – Paris. 1992.

Một chặng bay dài với ba người được nhận học bổng cùng trường năm đó. Hắn trẻ nhất nên được các đàn anh quan tâm, chăm sóc.

Phải bao năm sau, hắn mới dám lộ cái “bí mật” mà hắn khoá chặt trong trí óc: Khi nói lời chia tay với mẹ, trong đầu hắn đã ghi một câu: “Mẹ ơi, có thể con sẽ không về ngay đâu.”
Từ thời sinh viên hắn đã mong sao một ngày được bay bổng, được học, sống ở nơi xa, rất xa. Liên xô. Anh. Pháp… Đâu cũng được, miễn là được xa nhà, xa cái nơi mẹ đã đau lòng, đứt ruột sinh ra hắn, cái xóm làng quanh năm lo cày, cấy, gặt hái mà vẫn nghèo rớt mồng tơi.

Nắng hè, ve kêu cào lòng mẹ
Ầu ơ nựng bé khóc chào đời
Tháng bảy khô chờ hạt mưa rơi
Hỏi ai nỡ vắt nước trời giải hạn
Ngủ đi con mẹ ra đồng ruộng cạn
Tuốt sợi vàng chờ tả ngạn mang giông.

Paris, một sáng tháng tám 1992.

Bốn anh em đi du học loay hoay với tấm bản đồ, mắt không rời tờ giấy ghi hướng dẫn đến nơi nhận học bổng tháng đầu tiên và địa chỉ ký túc xá. Oai lắm chứ. Dân học bổng chính phủ Pháp đấy!

Kéo được hành trang du học đến khu nội trú nằm ở ngoại ô Paris thì trời cũng về chiều.
Tuần đầu, bốn người đàn ông thay phiên nhau đi chợ, nấu chung, ăn cùng. Sau giờ học, họ ghé chợ Ed – siêu thị thức ăn siêu rẻ mà chỉ có những đối tượng nghèo đến để mua rau cỏ, thực phẩm. Đôi khi nhìn những chú gà nuôi thả tự do trang trại vàng óng nhưng họ không dám “nhặt” vì giá đắt gấp ba, bốn lần chú gà công nghiệp trắng ởn như miếng thịt lợn luộc.

Nhiều tối ăn xong trời vẫn còn sáng lắm, họ rủ nhau ra đứng bám thành cây cầu vắt qua cao đường cao tốc, nhìn ô tô chạy vụn vụt phía dưới. Họ nhìn nhau, an ủi. Sinh viên mà. Paris đấy. Nước Pháp đấy. Lúc đó họ đâu biết cuộc sống sinh viên ở Paris còn cực khổ hơn thế. Thế là họ nhớ nhà, nhớ quê, nhớ gia đình.

Sau một tháng học, ai cũng muốn rời ký túc xá xa và bất tiện. Mỗi người tìm cho mình một chốn ăn ngủ khác nhau.
Hắn chọn thuê một phòng riêng ở một ký túc xá trong nội thành Paris. Anh em bạn bè mắng hắn:
“Bao nhiều tiền học bổng mày nướng hết vào tiền thuê phòng, thằng này ăn chơi quá!”
Mấy anh bạn kia thuê phòng trọ hoặc ở đổi việc lấy phòng ở trong gia đình Việt kiều hay gia đình Pháp.

Gần đến kỳ thi kết thúc khoá học, một anh bạn lăn đùng ra ốm. Bệnh tâm lý.
Bạn bè đến thăm anh tại căn phòng khoảng chín mét vuông chỉ kê đủ một cái giường. Bếp nước, nhà vệ sinh bên ngoài, dùng chung với những người ở trọ khác trong căn hộ.
“Tiền đây, tiền đây, tiêu đi! Tiền là cái gì mà phải giữ?”
Anh bạn hắn cứ bãi tiền học bổng chắt chiu hàng tháng trên giường và nói lảm nhảm.
Nhìn anh, hắn để rơi hai hàng lệ. Hắn là hạng người mau nước mắt.
Ngày hôm sau, anh bạn không đến lớp. Anh phải nhập viện. Cho đến giờ hắn cũng không biết anh đổ bệnh do sức ép của học hành, bài vở hay vì sức ép vừa học kiếm tiền trời Tây để trợ cấp vợ con quê nhà.

Tốt nghiệp Học viện Hành chính ở Pháp. Hắn tìm cách ở lại nơi đất khách quê người, rồi cuối cùng hắn không tìm ra kế gì để có được một chỗ đứng dưới trời Tây.
Vé máy bay trở về đã cầm trong tay. Hắn tư lự đóng gói những hành lý của cả năm qua để gửi về quê nhà. Chẳng muốn vứt đi thứ gì: sách vở cũ, những đôi giầy mùa đông thô kệch, những chiếc áo măng tô dài đến gối, những chiếc khăn len hắn bới, chọn, mua giá rẻ từ đống đồ cũ ngoài chợ trời, chiếc đài cát xét, chiếc đầu đọc băng từ video. Đấu tranh tư tưởng mãi thì hắn cũng bỏ lại được cái tivi nặng cả chục kí.

Hắn lên máy bay về nước. Hành lý về sau bằng tàu biển.

Hà Nội 1993.

Ngày “hàng” về nước, chắc gia đình hắn háo hức lắm. Hàng của thằng đi du học ở Tây về. Nhiều người nghĩ hắn giàu phải biết. Có kẻ đùa ác độc còn nói là hắn đã mang theo cả va li tiền về.
Buồn. Tủi. Hổ thẹn. Hắn mở hết thùng này đến thùng khác, chỉ toàn sách vở và tư trang mà người đời gọi là “chổi cùn, rế rách”. Con chó chạy pin làm sao vẫn sống sau cả tháng trời lênh đênh trên biển? Hắn bật nút “ON”, con chó bông ngoáy đuôi, kêu ăng ẳng và chạy như robot. Chắc nó chạy đến khi pin kiệt sức mới dừng.
“Cái đồ này ở nhà đầy, hàng Tàu, rẻ không à!” Đúng là đồ chó chạy pin!

Hắn sống lặng lẽ. Trầm tính. Thu mình. Một thời gian sau hắn biết mọi người gọi cái “lặng” của hắn là bệnh “trầm cảm”. Có thể hắn đã sống với cái nghèo khổ từ năm này qua năm khác ở quê nhà và chưa hưởng thụ cái giầu sang của xã hội phương Tây nên hắn còn quá lạc hậu so với sự thay đổi nhanh đến chóng mặt của quê nhà hơn một năm qua.
Hắn vô tình gieo thất vọng vào lòng những người thân để rồi hắn cũng lững lờ trôi cùng nỗi thất vọng của bản thân.
Hắn là kẻ du học trở về với tấm bằng to nhưng vẫn khố rách, áo ôm.
Thế rồi hắn lại mơ đi xa. Đi càng nhanh càng tốt. Càng nhanh càng tốt. Chỉ chưa đầy hai năm sau, ước mơ thành sự thật. Hắn lại chuẩn bị hành trang ra đi.

Paris. 1995.

Vẫn cái ga tàu đầu tiên của ba năm trước đón hắn trở lại. Nhưng lần này hắn có lý trí hơn, quả quyết hơn.

“Đi, và đã đến thì đừng mang bàn chân trở lại!” Hắn tự hứa với bản thân. Một cuộc đời mới. Phần tiếp theo của cuộc đời hắn kéo dài ba năm. Hoàn thành nhiệm kỳ công tác, trưởng đại diện một tổ chức tín dụng tầm cỡ quốc tế, hắn không để mất cơ hội lập nghiệp trên đất người. Hắn xin nghỉ việc và quyết định thi vào một trường đại học thương mại nổi tiếng ở Paris.

Hắn vượt qua hai trăm thí sinh để lọt vào top hai mươi theo đuổi cái tấm bằng MBA. Trường tư, phí học cao. Phải cố gắng thôi. Thu nhập của hắn là khoản học bổng của một đại sứ quán ở Hà Nội và tiền thù lao đi làm thêm, đôi khi làm chui, như rửa bát, phục vụ ở nhà hàng, kế toán cho một hiệp hội. Tiền có được hắn đổ vào học phí, thuê nhà, ăn uống sinh hoạt, vé tàu điện ngầm… Đừng nói hắn có tiền dư mà gửi về quê biếu mẹ già.

Paris. 2000.

Học xong, có tấm bằng mới trong tay, hắn vẫn chỉ là kẻ nhập cư với cái thẻ cư trú sắp hết hạn. Hắn hoang mang.
Hắn xin vào làm ở một vài công ty. Vất vả lắm vì các công ty ở nước ngoài vẫn đào thải nhân viên và người thất nghiệp còn quá nhiều. Hắn dùng cây bài chót. Cây bài định mệnh: Thành lập công ty riêng.

Paris. 2015. 

Thế là mười lăm mùa đông lạnh lẽo tiếp theo đã qua. Hắn đã thử sức trên nhiều lĩnh vực. Một mình cầm chèo công ty trách nhiệm hữu hạn. Buôn bán hàng thủ công mĩ nghệ nhập từ quê nhà, thiết kế đồ trang trí nội thất, quần áo, buôn bán đồ may mặc, dịch thuật, giáo viên tiếng Việt, tư vấn, hợp tác với các đài truyền hình…

Hắn bươn chải với cuộc sống nơi đất khách mà hắn tự cho là “khi ta ở chỉ là nơi đất ở”. Pháp, quê hương thứ hai của hắn. Hắn cũng không buông lơi cuộc sống yêu đương. Nếu nói về các cuộc tình hắn đã ấp ủ như gà mái mẹ, nuôi dưỡng và tan biến như tuyết gặp mùa hè thì bao kẻ chống cằm nghe để thốt lên mọi động từ, tính từ mạnh: lãng mạn, cuồng si, ngọt ngào, cay đắng, hạnh phúc, thất vọng, thăng hoa, mù quáng… Khi hắn yêu thì công việc cũng chỉ đứng hàng kế. Khi hắn yêu và tình yêu được đáp lại thì súng nổ vang trời hắn vẫn thấy hắn là người hạnh phúc nhất. Hắn làm thơ. Thơ tình.

Ta dắt em về trong ngất ngây chiều tím
Nắng ghen rượt đuổi phím đàn thu
Môi chạm hạt men, hồn say hoa cùng nụ
Ta trộm tim em giấu vũ trụ tình.

Nhiều đêm giấc ngủ không làm bạn với hắn. Nằm vắt tay lên trán suy nghĩ mông lung để rồi hồn hắn nhào vào một ước mơ: trở thành cây bút lãng mạn. Hắn chui ra khỏi chăn và viết. Những ngày tiếp theo hắn vẫn mải mê với cây bút, với bàn phím. Hắn đổ hồn vào thơ, vào văn, vào những cảm xúc không bờ bến. Có khi đang làm việc hắn cũng lôi cuốn sổ tay bé tí xíu, ghi ghi, chép chép cái ý tưởng vừa vụt qua trong óc. Bắt, tóm, gói chúng vào một mẩu giấy để rồi một đêm mất ngủ hắn lại lôi chúng ra giày vò, xoay tứ phía, cắt gọt thành một câu chuyện để kể cho mạng xã hội.

Ảnh: Christophe Jacrot

Ngồi trên tàu điện ngầm buổi sáng đi làm hay buổi đêm trở về căn hộ thuê, mắt hắn đảo ngang, ngược nhìn cuộc đời xung quanh, lúc nhắm tịt và mơ về một nơi chỉ có dòng sông chảy, chỉ có những đàn cá tung tăng dưới chân đàn vịt trời. Một dòng sông ôm trọn bóng lâu đài tình ái.

Mơ ước của hắn được trả giá. Cuốn sách đầu tay ra đời. Hắn háo hức giới thiệu khắp nơi. Hội sách, thảo luận đài, báo, tivi. Cho, biếu, tặng, cứ như ai biết đọc là sẽ được hắn tặng sách. Sách của hắn cũng ngồi oai phong trên kệ của một số nhà sách lớn trong và ngoài nước.

Hắn đảo qua các nhà sách nếu thấy cả đống sách vẫn nằm đó thì hắn có cảm giác như một kẻ hành khất không nhà, ngồi khép mình bên một góc phố lớn chờ lữ khách quẳng vài đồng xu vào bát, hắn tưởng tượng cuốn sách đầu tay của hắn chẳng khác gì một tờ báo cho không bị hành khách quẳng lại trên ghế chờ của ga tàu điện ngầm khi tàu vào ga.

Có ai tránh được cái vòng quay cuộc đời? Hắn cứ bám việc qua ngày. Dừng làm việc có nghĩa là chết. Thế mà hắn vẫn khẳng định hết yêu mới là chết. Có những năm hắn chẳng có một mảnh tình nào đậm đà vậy mà hắn vẫn sống. Giờ cứ thách hắn nghỉ một năm không làm việc, kiếm tiền thì chắc đời sẽ loại thải hắn.
Thế là cái lý do cần vật chất để tồn tại vẫn thắng. Hắn phải bám trụ với công việc. Cuối ngày hắn lại lầm lũi, đơn côi lê bước qua các cây cầu để trở về với bốn bước tường vắng.

Đêm
Mệt nhoài
Uể oải
Những toa tầu
Chìm sâu hồn mưa bụi
Đêm
Oằn mình
Lầm lũi
Nhận một chuyến tầu vơi
vào bến hậu
Ngày dài trôi đâu
Cọng buồn tím tái
Mắc kẹt trong bánh lái
Nhức nhối
Nối vào tiếng xe phanh
Cuộc đời mong manh
Lần theo vết
Bánh xe
Thôi lăn
Vắng lặng
Một nhà ga
Chờ một đông qua
Bước chân đêm nhạt nhòa
Tìm về xóm quạ.

Đất khách, quê hắn. 2015.

Ngoảnh lại nhìn những chặng đường hắn qua, hắn thấy đời gai góc. Bốn tấm bằng tốt nghiệp và hơn hai mươi năm trời trôi dạt trên bao quốc gia, giờ hắn chỉ có hai bàn tay trắng. Hắn muốn về quê hương. Tưởng như hắn đã chấp nhận những cái nhìn xoi mói, khinh bỉ của thế giới xung quanh. Thế cũng là kiếp đi Tây. Làm lại từ đầu? Trên đời có ai nói bắt đầu cuộc đời ở tuổi bốn bẩy? Dằn lòng để tìm cho một lý do chính đáng tự an ủi, động viên: hắn sẽ không làm lại từ đầu mà hắn sẽ bắt đầu một giai đoạn tiếp theo của cuộc đời. Hắn sẽ phải cố gắng và không cho phép mình lùi bước. Hắn nhớ mẹ già. Nhớ đồng quê.

Ta mong là cơn mưa
Mẹ muốn trời xanh thắm
Ta xin là vực thẳm
Mẹ cầu đỉnh núi cao
Mẹ mơ những vì sao
Ta mải bờ cát trắng
Khô hanh mẹ – hạ đắng
Ta vùi hồn tuyết đông
Cồn cào con sóng mộng
Lệ nhòa cõi hư không.

Khi đôi chân con người mệt mỏi, không biết cất bước về đâu thì chỉ còn một cõi đi về: Quê hương.
Còn chăng cái bóng mẹ già thấp thoáng bên bức tường vôi loang lổ, rêu phong để mở rộng vòng tay ôm hắn vào lòng?

Chắc lúc đó hắn chỉ biết van lơn: “Mẹ ơi, mở cửa, con về!”

Hồn ai như dải cát trắng. Sóng nào như lòng mẹ vỗ về triền miên, cồn cào, không mỏi mệt. Nước mắt mẹ mặn như biển sâu, gột rửa từng hạt cát cuộc đời.
Nắng. Gió. Cháy bỏng. Bóng dáng con thuyền lập lờ, nhấp nhô trên các ngọn sóng xa bờ.
Kẻ chèo thuyền có biết thuyền đang ra khơi hay vào bến?

Sông Hồng đổ vào ký ức

Tranh sơn dầu: Lê Minh

Tôi không sinh ra nhưng đã lớn lên và sống những tháng năm tuổi trẻ ở đây – nơi thành phố này. Thành phố Lào Cai biên cương có con sông Hồng nước ửng như màu má thiếu nữ, là sợi dây rốn nối tôi vào quê nhà Nam Định. 

Mỗi tháng ba, những cây gạo già thắp lửa dọc triền sông thứ màu hoa cô đơn và buồn bã đến nhói lòng. Nhà tôi cạnh bờ sông, phía sau nhà có cái cửa sổ sơn màu xanh biếc mở ra đón gió. Từ khung cửa này, tôi có thể thấy những mùa hoa gạo – bắt đầu nhen nhóm đến khi lụi tàn, nó gợi cho tôi về kí ức của ngày giáp hạt vùng chiêm trũng với hình ảnh bà tôi thái rau mồng tơi cả cậng, những bữa cơm độn khoai quá nửa, và đóm đóm bay trên mặt ao bèo…

Tôi đã lớn lên từ nỗi buồn trong veo như thế. Nhà tôi đã xây kiểu khác, khung cửa xanh không còn, cây gạo đã đổ gục sau mùa lũ lớn, chỉ còn sông Hồng, vẫn chảy miệt mài và bất tận phía chân trời. Tôi đã đi xa, rất xa ngôi nhà thơ bé, sông Hồng đỏ lựng, và bao mùa hoa gạo đã nở và rụng cánh xuống dòng sông này. Ngày hôm qua nào rồi cũng sẽ trở thành nỗi nhớ, như nỗi nhớ của tôi về một dòng sông hoa gạo như vừa mới hôm qua. Sông đã trôi có bao giờ trở lại. Có những điều tưởng chừng đã mất không thể tìm thấy, nhưng nó chỉ ngủ quên trong kí ức, chờ ta chạm vào thức dậy mà thôi.

*

Năm 1991, tái lập thị xã Lào Cai, tôi theo gia đình lên đây sinh sống và lập nghiệp. Khi ấy, cầu Cốc Lếu bị bom mìn chiến tranh đánh sập chỉ còn chơ vơ vài cái mố giữa lòng sông. Mỗi ngày rằm, mùng một, tôi theo bà qua phà Cốc Lếu sang phường Lào Cai đi lễ đền Thượng. Sông Hồng ngầu lên như bị đau mắt đỏ chảy miên man giữa đôi bờ lau sậy um tùm. Tôi níu chặt áo bà, sợ hãi nhìn sông Hồng lao tới như muốn nuốt chửng lấy hai bà cháu, những hành khách, và cả chuyến phà bé nhỏ, mong manh như kiếp người vật lộn mưu sinh.

Đền Thượng uy nghiêm cổ tích soi bóng xuống dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa. Ngay cổng đền án ngữ cây đa cổ thụ hàng trăm năm tuổi, rễ buông thõng như bầy trăn khổng lồ. Cây đa cao lớn như quả núi tỏa rợp xuống một vùng rộng lớn. Bà nắm tay tôi đi trên con đường gập ghềnh sỏi đá và nhễ nhại nắng trưa, nhưng bao nhiêu mỏi mệt tan biến khi chạm vào bóng mát hiền từ. Nghìn cái lá đa là nghìn con mắt Bồ Tát, nghìn cái lá đa là nghìn bàn tay Đức Phật đang trìu mến, reo vui trong trùng trùng ngọn gió sông Hồng.

Bà tôi bảo đền Thượng thờ Đức Thánh Trần có công dẹp giặc ngoại xâm, giữ vững chủ quyền bờ cõi biên cương. Bà thường gọi tên ở nhà của tôi thay cho tên khai sinh, vì bố đặt tên tôi trùng với tên của Đức Thánh Trần, bà kiêng gọi vì sợ phạm húy. Bà lầm rầm khấn vái trước ban thờ, cầu mong Đức Thánh Trần che chở và phù hộ cho gia đình tôi được no ấm, bình an. Tôi cúi lạy theo lời niệm của bà, đôi mắt thơ ngây, trong trẻo đầy thành kính, tin yêu.

*

Tháng bảy mùa lũ. Những cơn mưa ngâu dai dẳng làm cho nước trên các suối, ngòi dâng cao rồi đổ ra sông Hồng. Sông Hồng ngày thường vốn đã hung hãn thì mùa lũ càng dữ tợn hơn bao giờ hết. Mặt sông chín lừ như người uống rượu say rồi lên cơn nát gầm gào đuổi theo người khác. Bố tôi cởi trần bơi ra vớt củi. Đây là củi từ những cánh rừng ven bờ bị lũ cuốn đi, đun rất đượm than và bén lửa. Nếu mò được củi chìm đi lần dưới lòng sông thì củi này còn thượng hạng hơn nữa, đen bóng, chắc nịch và có nhiều hình thù độc đáo. Bây giờ người ta gọi là gỗ lũa, bán rất đắt.

Tôi đứng trên bờ xem bố vớt củi. Bố tôi bơi giỏi như rái cá giữa dòng sông mùa lũ chảy rầm rầm như ngựa phi nước đại. Có lúc thấy bố lặn mãi không thấy lên, tôi sợ quá khóc giàn giụa và gào ầm ĩ: “Bố ơi, bố đâu rồi?”. Đúng lúc ấy bố tôi ngoi lên, trên đầu đội một sợi rong xanh biếc như vương miện, một giơ khúc củi như cây trượng quyền lực. Cơ thể bố mạ màu đồng hun và nổi bắp cuồn cuộn. Nhìn bố dũng mãnh và oai phong như vị thuỷ thần. Tôi thích chí  vỗ tay cười khach khách. Nước mắt long lanh mưa đọng trên nụ cười lấp lánh nắng.

Tháng mười mùa cạn. Những cơn mưa đã rủ nhau trốn đi đâu hết làm cho sông Hồng trơ đáy, nước xanh như vỏ chai bia thuỷ tinh, có thể nhìn thấy những viên cuội bảy sắc cầu vồng và đàn cá bột tung tăng bơi lội. Khi ấy mẹ tôi tay cầm cào, đầu đội rổ đi đãi hến. Mẹ lội ra bãi soi nhô lên cạnh bờ sông, chọn chỗ mà mẹ biết chắc là hến nhiều như sao sa, rồi dùng cào để cào cát vào rổ. Sau đó mang rổ ra đãi những con hến nằm lẫn trong cát. Hến sông Hồng chỉ nhỏ bằng móng tay cái người lớn, vỏ xám như chì nhưng ruột chắc nịch, ngọt lừ.

Nắng chiều – Sơn dầu Đặng Đình Ngỡ

Mẹ đem hến về luộc rồi đem cả ruột và nước ra chợ Gốc Mít bán cho người ta nấu canh. Mẹ thường hát “Canh hến nấu với mồng tơi, chan cơm gạo Séng ăn trôi cửa nhà”. Có hôm ế hàng bán không hết, mẹ nấu cháo hến rắc hành răm cho anh em tôi ăn trừ bữa thay cơm. Cháo hến mặn mòi như mồ hôi của mẹ rỏ xuống sông Hồng ngày giá rét. Cháo hến ngọt ngào như tình thương của mẹ dành cho các con. Con hến ăn phù sa sông Hồng mà dâng hiến cho đời trọn kiếp sống. Tôi ăn bao nhiêu con hến mà chẳng biết có dâng cho đời một chút chữ nghĩa, văn chương.

Có những buổi trưa hè, khi mẹ đang lúi húi đan lại cái rổ bị tuột cạp dưới bếp và lúc bố bắt đầu ngáy pho pho trên nhà thì tôi nhẹ nhàng trở dậy, khẽ khàng nhón gót như gió sông đang trườn qua tán bàng trước cửa. Thằng Tiến, thằng Trung, thằng Long đã đợi tôi như từ nghìn năm dưới tán bàng xòe ô rồi. Chúng tôi rủ nhau đi tắm sông. Ngang qua bụi cây cứt lợn trổ hoa tím ngắt triền sông, tôi bắt được một con con chuồn chuồn ớt uống nắng ngủ say trên bụi cây. Tôi cho con chuồn chuồn cắn rốn đau điếng để nhanh biết bơi.

Sông Hồng kia rồi, như dòng mật ong mơ màng, như dòng nắng vàng lim dim nghe tiếng chim, tiếng ve trưa hè. Sông trôi trong gió. Gió luồn giữa mây. Mây bay dưới trời. Trời soi xuống sông. Sông tuôn phía biển. Biển quay về nguồn. Bầy trẻ con chúng tôi thích ăn mật ong, muốn uống nắng vàng nên quên cả lời bố mẹ dặn chạy ùa xuống dòng nước mát lịm. Thế rồi tôi cũng biết bơi ếch như thằng Tiến, sải bướm như thằng Trung và biết trồng chuối như thằng Long. Chẳng biết từ những trưa hè chăm chỉ tập luyện hay do con chuồn chuồn bắt được ở bụi cây cứt lợn cắn rốn mà tôi đã biết bơi, bơi giỏi là đằng khác. Tiếng cười bầy trẻ rộn rã cả dòng sông trưa hè. Dòng sông tiếng cười trẻ thơ nở ra ngan ngát. Bố tôi đầu đội nón mê, tay cầm roi tre réo gọi: Tuấn ơi. Dạ. Mang dạ vào đây. Cả ba thằng chạy lên bờ nhanh hơn lúc xuống nước. Bố cầm roi đuổi theo bầy trẻ như đang lùa đàn vịt con về chuồng lúc nhập nhoạng hoàng hôn.

*

Có lần tôi vừa đi học về đến nhà thì thằng Tiến chạy sang rủ tôi ra bến phà Cốc Lếu xem người chết trôi. Nó nói thầm vào tai tôi kẻo mẹ tôi biết được lại không cho đi. Đến nơi, tôi thấy người chết là một người đàn ông mặc bộ quần áo cũ kĩ, mặc mũi thâm tím nằm trên bãi cát. Người ta đang đi mua chiếu đắp và hương thắp cho người xấu số nên chúng tôi mới tận mắt nhìn thấy người chết. Có người kể, người đàn ông này nhà nghèo lắm, vợ đau ốm, một đàn con nheo nhóc. Ông ta sang Trung Quốc làm thuê mà công rẻ mạt quá không đủ tiền nuôi vợ con. Vì không đủ tiền mua nên ông ta trót lấy trộm một cái áo sơ mi trắng để con trai mặc ngày khai giảng.

Họ bắt được và đánh chết kẻ trộm cắp rồi ném xác xuống sông Hồng. Xác người đàn ông trôi về và dạt vào bến phà Cốc Lếu, trước cửa nhà ông ấy. Có người vừa đi báo cho vợ ông ấy rồi. Người nói chỉ tay về phía ngôi nhà tranh liêu xiêu trên bến phà vắng vẻ. Tôi nghe thấy thế bỗng nhiên khóc oà. Đấy là nhà thằng Huy. Đây là bố thằng Huy học cùng lớp với tôi mà. Thằng Tiến cũng khóc theo, nức nở và nghẹn ngào như mưa rào trên sông lũ. Chẳng ai biết vì sao hai đứa trẻ con lại khóc, dỗ cũng không nín. Sông Hồng kể cho tôi nghe bắt đầu bằng câu chuyện buồn đau như thế.

Chị Duyên là cháu của cô Giàng hàng xóm nhà tôi. Nhà chị ở vùng trung du lên đây ở nhờ học trung cấp sư phạm. Nghe nói chị quen rồi yêu một anh cai thầu xây dựng giàu có lắm. Chị phát hiện có thai và cũng phát hiện ra anh cai thầu có vợ dưới quê rồi. Hắn dỗ ngon, dỗ ngọt chị Duyên phá thai để hắn có thời gian bỏ vợ và cưới chị, với lại chị Duyên còn đang đi học, nếu nuôi con mọn thì sẽ nhỡ dở việc học hành. Nghe bùi tai, chị Duyên làm theo lời hắn. Cũng từ đó, hắn không qua lại và cắt liên lạc với chị Duyên. Chị Duyên lên tận công trường tìm hắn.

Người ta bảo công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, còn đám thợ thi công chuyển đi làm ở đâu thì họ không rõ. Hắn đã cao chạy xa bay, ngay cả cái tên hắn cũng nói dối chị Duyên. Quá uất ức và căm phẫn chị đã gieo mình xuống sông Hồng mùa lũ. Đến tận bây giờ, người nhà chị Duyên vẫn chưa tìm thấy chị ở đâu giữa mênh mông sóng nước. Có lẽ chị Duyên đã tan vào đồi bãi trung du xanh chè vàng dứa quê chị.

Mỗi rằm tháng bảy, mọi người vẫn thả đèn hoa đăng lung linh cả dòng sông, một dòng sông hoa đăng huyền ảo giữa âm và dương, giữa hư và thực, giữa còn và mất, giữa sống và chết để cầu mong cho những linh hồn lang thang không nơi nương tựa được siêu thoát. Tiếng chuông trôi trên sông. Tiếng mõ bay trên sông. Những linh hồn vừa trôi, vừa bay trên sông. Tôi đi trong mịt mờ khói lửa, tro tàn của các nhà đốt vàng mã và tự hỏi: Có con mã nào, có hoa đăng nào gửi cho bố thằng Huy và chị Duyên của tôi không? Sông Hồng ôm ấp trong lòng mình những cuộc đời ngắn ngủi để mà che chở, ấp iu.

Ngày hai ba tháng chạp là ngày ông Táo lên chầu trời. Năm nào tôi cũng nhận nhiệm vụ mẹ giao đi thả cá chép xuống sông Hồng. Đã vài năm nay, chính quyền thành phố tổ chức lễ thả cá phóng sinh vào ngày này nhằm giữ gìn tục lệ của cha ông đồng thời kêu gọi mọi người bảo vệ môi trường. Sông Hồng còn gọi là sông Cái, sông Mẹ. Mỗi khi thả cá tôi cứ nghĩ tôi cũng như chú cá chép nhỏ mẹ thả bơi theo dòng để tìm ra biển lớn rồi qua bao giông bão, ghềnh thác lại quay về với sông mẹ đỏ nặng yêu thương.

Tôi không còn ở bến bờ xưa cũ nhưng vẫn thấy sông Hồng ở nhiều nơi tôi đi qua như gặp lại tiền nhân. Rồi tôi thấy cả dáng vóc, hình hài sông Hồng trong những dòng sông khác chảy trên khắp nước non, xứ sở này. Sông Hồng với tôi có mùa vơi cạn nhưng lòng tôi với sông luôn ăm ắp dâng đầy. Sông Hồng chảy qua tháng năm, chảy qua trầm tích, chảy qua cõi người rồi đổ vào kí ức tôi thứ tình yêu thuần khiết, nguyên sơ đôi khi không thể nói hết bằng lời. Sông chảy mãi chưa hết một đời sông. Người chớp mắt đã hết một kiếp người. Muốn hết kiếp người hữu hạn hoá thành hạt phù sa nhỏ bé trong đời sông vô hạn bồi đắp cho cánh đồng lúa ngô đôi bờ trù mật, có được không hỡi ngưỡi?

Sông Lam trở dạ

Tranh: Đỗ Hiển

Trên dòng sông Lam ai chan nắng chiều. Ngược dòng sông Lam ai xõa ngày xưa ngày nay. Xuôi dòng sông Lam “biết khi mô cho cạn”, sông Lam trở dạ phù sa…

Sống bao mùa nắng hạn, ở bấy mùa bão giông, dòng sông Lam vốn hiền hòa là vậy nhưng đôi khi ưu tư mà vật vã đỉnh trời. Nguồn cơn từ hai nhánh chính là dòng Nậm Nơn và Nậm Mộ, chảy qua hai tỉnh Hủa Phăn và Xiêng Khoảng, sông Lam ngập mình chảy vào Việt Nam xứ sở, băng qua Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông nó vặn mình thác lũ Anh Sơn, Đô Lương, Nam Đàn. Một ngày dòng Lam bàng hoàng máu thịt với dòng La, ngồn ngộn qua Đức Thọ, Nghi Xuân rồi ầm ào giao mình cho biển nơi thập thò cửa Hội.

Tôi xuôi dòng Lam mà đi, con thuyền băng băng qua những màu xanh tha thướt, những bến bờ êm êm mượt mượt, như một màu nhung mắt cô gái lên huyền. Dòng sông Lam tự bao đời nay, khi ăn nó chảy, khi ngủ nó chảy, khi thức nó chảy, khi nhớ thương nó chảy, khi cuồng nộ nó chảy, khi oan ức nó chảy, chân trời tít tắp trở dạ phù sa…

Con thuyền chòng chành lắp máy Kohler, nó tành tạch xuyên qua những sườn đồi, đôi lúc nó mươn man sóng mà cua quanh một hẻm núi, rồi có khi nó cắt côn êm ru dạo rượt bình nguyên. Đôi bờ sông Lam có lúc lặng tờ bờ bãi, có khi ồn ào một phiên chợ hôm, có buổi dềnh dàng bè tre bè luồng thả dòng trôi hoang.

Dòng Lam chính là cái ven cống của xứ Nghệ, nó bơm huyết tương, huyết thanh để rạo rực đất này. Đất xanh lên từ bãi, bãi xanh lên từ sông, sông lớn lên từ nguồn, cứ thế cứ thế gạn đục vui buồn, khơi trong lịch sử. Ai đi xa nhớ quê, ai ở gần yêu làng yêu xóm, đâu đâu chẳng một bóng dòng Lam.

Thuyền chạy qua Anh Sơn, Con Cuông vào dịp chiều tà, dòng phù sa đỏ thẫm mặt trời, những bãi ngô đang non xanh lên một khoảng trời nắng Nghệ. Chim muông ngẩn ngơ đập cánh, hai bênh bờ chạnh vạnh nhớ thương. Chúng tôi quyết định cho thuyền tấp bãi, dựng lều, nấu cơm, nướng cá, nghỉ lại qua đêm.

Đất bãi, đất bồi, thứ phù sa màu hồng đỏ, như màu mắm con ruốc phơi được nắng mà hả hê mùi vị. Lớp phù sa chồng chồng, liên liên, hồi hồi, từ đời cha đời ông, đóng cái cọc neo lều mà mũi tre đi ngọt ngào lút cán. Dựng lều trại xong, tôi cùng hai người bạn xả vầu tra gạo lam cơm, lại thêm củi lửa nhén nhom mà nướng muối ớt hai con cá lăng nhơ nhỡ kiếm được lúc vi vu thượng nguồn. Không gì ngon bằng cơm lam xế chiều, chẳng gì đượm bằng thứ cá lăng nhơ nhỡ củi lửa than hồng mà phong thanh muối ớt. Hơ nóng bình rượu trần một lượt qua thân cá rồi muối ớt bao bọc tanh tao. Mỡ cá chảy xuống than hồng, cơm lam lên mùi mây tầng, mây xanh, mây bạc, cảnh chiều vương vít đôi bờ sông Lam như bày ra bữa tiệc thịnh soạn hiếm thấy quê mùa. Thân không từng ăn cá lăng nướng, không từng ngồi trong lều trại mà thấm đẫm dòng Lam, không buông mắt bãi xa bờ gần, phải chăng đã hoang phí một cõi người.

Sao thứ cơm ăn trên bãi chẳng bao giờ biết no, thứ cá nướng bên dòng chẳng bao giờ thấy ngán, thứ rượu ẵm vào tối chẳng bao giờ thấy say. Hoàng hôn chùng dần ven sông, vẳng nghe vài tiếng gà gáy mơ màng, mơ hồ, mơ xa, như tiễn chiều vào vắng. Dòng Lam đùng đục lướt trôi. Hồn tôi mò mẫm không thôi. Vẽ vời những bóng quê màu sắc.

Ngồi một đoạn, nhấn nhá cái bóng thượng nguồn ù ập bóng sông, cả ba chúng tôi hối hả giọt lành ký ức, ai ai cũng mơ tưởng dòng sông huyền thoại, ai ai cũng lên lầu vẳng vót binh đao. Đi suốt chiều dài lịch sử, dòng sông Lam đã làm nên cốt cách hiền tài xứ Nghệ, mặn mà, tinh anh tụ khí con người.

Ngồi một chốc mà thư thoảng tiếng mõ tiếng cốc bên tai, yên một chốc mà lấm lấm lem lem bùn vẹm vào bãi bồi bãi lở, thở một chốc mà còn nghe tiếng gươm khua giục gió xuyên rừng. Hình ảnh tổ tiên giữ bờ, cha ông mở cõi, anh anh chị chị, cô cô bác bác, cậu cậu mự mự ghì súng, cắm chốt, giữ đât giữ làng cứ bộn bề khua khỏa vào nơi nơi chốn chốn dòng nông dòng sâu. Bỗng đâu Hải quay sang bảo tôi: Anh Huy này, giá giờ này mà có cây đàn  nhỉ, anh em mình ngồi ca hát đêm thâu. Tôi cười hiền, còn Mây cô vợ mới cưới của Hải người miền Tây xứ Nghệ gục đầu vào vai chồng thủng thẳng như tiếng con trâu tan chiều về bản: Hải không nghe tiếng đàn ngô đó sao, lao chao léo réo yêu yêu đến thế là cùng…

Bất giác tôi quẳng hồn cho gió, bên thập bên thùng những bờ ngô xanh non đang vầu vạc thứ ánh sáng mê hồn trăng lên. Gió đuổi, gió đùa, gió đua trong bãi, hương lẻn, hương lừa, hương lựa đồng xa. Dọc hai triền sông, nơi chúng tôi ghé thuyền cắm lều dựng mái, tình từ đâu yên ả, dòng từ đâu căng trôi, phù sa từ đâu trở dạ…

Trăng mỗi lúc một xanh, trăng xanh hay vì bát ngát lớp ngô này đuổi lớp ngô kia xanh thành bờ bờ bãi bãi. Trăng thỏa xuống dòng Lam thứ ánh sáng núi non làm cho dòng nước hắt lên một ánh tơ hồng. Vài con chim núi bay từ phía cánh cung sườn đồi xa xa, ngả cánh sau cánh đồng bãi ngô, tha theo thơ thẩn vài bóng chuông chùa. Ở đâu nhỉ mà hư mà thực mà đánh thức những mơ tưởng vụng về nơi trái tim trẻ trai.

Sớm hôm sau, ăn chút cơm tối qua còn cùng một ít mắm tép Mây mang theo, chúng tôi rộn ràng nhổ lều xếp trại, chống sào đẩy con thuyền ra mé dòng rồi tành tạch Kohler mà lướt xuôi dòng. Bình minh trên dòng Lam cũng khác nhiều bình mình trên những dòng sông mà tôi có dịp băng qua. Hai bên bờ sông có những lúc cao và dốc lút đầu, ngước mắt nhìn lên, mặt trời chạy vòng quanh theo những cách cung sông lượn sông lèo. Bởi vậy mà ánh sáng mặt trời như đuổi bắt, dòng trôi mê mải vắt, xéo đông, xéo tây, rồi như quên đi ngờ vực mà thẳng tắp ra hướng muôn trùng.

Có lúc dòng Lam va phải đá núi mà cua gấp như một tay áo nhàu nhĩ, có lúc nó phình ra đổi hướng lại nuột nà phẳng phiu. Nhiều đời nay vẫn thế, trăm ngàn mùa rồi vẫn vậy dòng sông Lam lịm ngọt đôi bờ. Con sông nào chẳng mang dáng hình hài xứ sở, dòng trôi nào chẳng uốn lượn theo thế đất thế núi mà nên. Vậy nhưng với tôi dòng Lam như khắc khảm sâu vào linh hồn bờ cõi, có vị thiêng của bốn mùa trầm ngâm…

Qua cầu bến Thủy nơi dòng Lam thảng thốt nhập vào dòng La, hai con sông mở mắt trừng trừng đổ vào biển cả. Đến khúc sông này phải là tay lái cừ, tay lái lụa mới giữ được cho thuyền đi đúng hướng mà không bị vặn vẹo theo dòng nước đổ hai chiều. Nhiều lúc Hải cho nổi chân vịt lên mà xuôi dòng, mà luôn lách, mà xiên đông né tây ghì mũi con thuyền.

Xa xa kia tầm mắt chúng tôi đã không còn bưng bởi núi đồi, bởi vặn vẹo hiểm trở, bởi dang đông xòe tây. Trước mắt mông lung lắp tắp là phía ngàn trùng cửa Hội, nơi con tàu lớn đang neo đậu chờ tôi khởi hành đến những cõi người ta. Lạ kỳ thay đến khúc sông này, dòng phù sa tưởng chừng chầm chậm khoan thai, ấy vậy mà không, nó lại như hăm hở dấn thân vào một cuộc sinh tồn. Cửa Hội mở nắng, đón gió, đón dòng Lam dòng La tưng bừng như hội. Dòng sông vít đầu xuống mà rền, mà chảy, mà mênh mang trở dạ phù sa, những thứ sinh sôi, những thứ nương náu từ đất, từ cát, từ núi, từ rừng, từ bờ, từ bãi, từ bom cày đạn xới, từ ông, từ cha, từ xưa, từ nay. Tôi nín thở lắng nghe, đời tôi đã bao lần nín thở lắng nghe từ dòng sông này từ khúc sông này. Sông Lam đang hát, nó hát bài hát lứa đôi, nó hát bài hát kiêu hùng, nó hát bài hát khải hoàn, nó hát lời hát sinh sôi. Còn tôi, tôi nghĩ gì, tôi hát gì, ai mà biết được, chỉ có trong lòng, thổn thức, một khúc trở dạ dòng Lam…

 

Sen cuối hạ Cốm đầu thu

Ảnh: Họa sỹ Tô Mạnh

Có một khoảnh khắc chênh chao khi chạm vào những giọt sương giăng khắp các tàng cây vào bình minh, kéo theo cái lạnh mơ hồ phả vào làn gió trườn qua, mắt nhìn như thôi miên những chiếc lá sen già đang dần chuyển màu xanh sẫm ngả màu khói xám trong hồ càng nổi bật búp hồng sen cuối hạ… 

Và tinh ý chút xíu, cảm nhận phố đang lan tỏa mùi đồng quê thơm ngọt hương nếp cốm mùa theo chân những gánh hàng rong len lỏi ngõ ngách.
Mùa thu đã lẩn khuất đâu đây, dù nắng vẫn tỏa màu mật ong giữa trưa phố đến hanh hao cả cây lá như gắng trút hết mùa hạ đang còn vấn vương.

Tôi đã có một chiều đầu thu đẹp như cổ tích với em, Hà Nội trong thơm mát hương sen được cắm trong chiếc bình sứ men lam dáng cổ, khi ngoài ô cửa kính bỗng bừng nắng sau cơn mưa như giông như bão giăng mù trời mới vừa dứt.

Vài tia nắng xiên qua cửa, tạo thành vệt sáng như mơ như thực nơi bàn trà, trên đó, em bày cốm Vòng với đĩa là chiếc lá sen tưoi xanh mướt, một bộ ấm trà sứ màu xanh ngọc, một búp sen bọc trà bên trong có vẻ bí ẩn…

Em còn nói vui, “chưa hết đâu anh, đây mới chỉ là khúc dạo đầu của chốn thần tiên”… Một tiệc tiễn hạ đón thu tao nhã, có chút liêu trai, em Hà Nội dành cho tôi, khách phương Nam.

Như một cuộc trình diễn nghệ thuật đầy mê hoặc, em cầm búp sen bọc trà, bóc nhẹ từng lớp cánh sen bỏ vào trong một cái bát thủy tinh pha lê, đến lớp cuối lộ ra những cánh trà, em khéo léo thả những cánh trà vào ấm…

Ảnh: Họa sỹ Tô Mạnh

Rất thong thả từng công đoạn, em rót nước sôi vào ấm trà, vào bát thủy tinh, thả ấm trà và mấy cái tách vào đó… Anh à, sen em ướp trà là sen Hồ Tây, lọai sen trăm cánh, có hương thơm nhất trong các loại sen. Trà em dùng ướp sen là loại trà Thái Nguyện cực phẩm, búp trà được hái từ sáng sớm sương còn ngậm, được ủ trong chum đất…

Tôi như đang trôi về miền cổ tích với những hạt cốm lá me xanh trong như mảnh lưu ly, mỏng tang như tà áo lụa của người thiếu nữ, phảng phất thơm dịu dàng nếp non, vị ngọt nhẹ trên đầu lưỡi, hòa cùng vị chát ngọt nồng ấm thoang thoảng hương sen của tách trà… Giọng em nhẹ nhàng như đang rót mật vào tôi…

Anh ở phương Nam, chắc lạ lắm với món quà mùa thu Hà Nội. Cốm Vòng là món ăn dân dã nhưng cũng rất sang trọng, thanh khiết của người Hà Nội, một món quà ôm cả mùa thu trong hương vị để tơ vương bao thi nhân ngàn năm kinh thành Thăng Long.

Ăn cốm tươi chỉ thuộc về những ai sành ăn và không vội vã. Người Hà Nội mua cốm từng chút một, không xô bồ, không gói to, không miếng lớn như những thức quà khác.
Cũng chỉ người sành ăn mới biết phân biệt cốm theo từng khẩu vị, hay từng khắc của mùa. Anh đang thưởng thức là cốm lá me, những mầm nếp mỏng dính như lá me, bé tí bay ra trong khi đang sàng cốm sau đợt giã cuối, loại cốm này ít và hiếm, chỉ đầu mùa cốm mới có, hạt cốm rời, ngọt đậm vị nếp non ngậm sữa đòng.

Loại thứ nhì nhiều hơn một chút là cốm giót (rót), những hạt nếp non sau khi giã, líu ríu nép dính vài hạt hay chục hạt vào với nhau, mềm, dẻo ngọt, màu xanh như ngọc, đậm vị giữa mùa thu.

Còn cốm mộc, thường dùng để làm bánh, nấu chè, hay các mỹ vị cực phẩm nhân gian khác, lại như hương vị muộn mằn cuối thu để nhớ…

Có một thoáng vụt qua, tôi có cảm giác mình đang trong một giấc mơ xuyên không, đang cùng em làm thần tiên quấn quýt giữa hương cốm hương sen. Sen vắt từ hạ sang thu, để thu gói mùa hạ trong hương cốm. Em Hà Nội là hương mùa hạ thơm sen hay là thu dịu ngọt hương cốm mới… Tôi cứ như đang bồng bềnh giữa hai mùi hương mùa sen cuối hạ, cốm đầu thu.

Đầu thu Hà Nội, từng vạt gió nhẹ như tơ nõn lướt qua, lọc không gian trở nên trong veo, càng làm cho phố mát hương sen cuối hạ, ngọt hương cốm đầu mùa. Ừ mà sao ai là người nghĩ ra gói cốm vào trong lá sen, ai là người nghĩ ra ướp trà trong hoa sen, để hương vị hòa trộn vào nhau như thể nếu không có thì không phải là mùa thu Hà Nội.

Trở về phương Nam, trong tôi còn đọng vị cốm Vòng, hương trà sen, và em trong một buồi chiều, như mang cả hương vị thu Hà Nội đẹp nhất, để tương tư mùa mãi không thôi.

Mùa thơm hương cổ tích

Cuối hạ, đám sen trong hồ đang tàn lụi, những tàu lá dần héo úa, quắt queo, vài bông hoa nở muộn nhầu nhĩ u buồn. Đó là dấu hiệu chuyển mùa rõ nhất ở làng quê. Đây đó lác đác đã có cây lá chuyển vàng rơi lả tả. Thu về, tôi lại nghe ngọt ngào hương cổ tích, mùi hương của thị chín trên tán lá xanh mát mắt.

Mùa này đi trên đường làng thơm lừng hương thị, đó là hương thu toả lan làm cho thôn quê đã thanh bình lại thêm phần thú vị và đáng yêu. Trong những ngõ nhỏ, thị rụng vàng ươm dọc lối đi. Trên tán thị vẫn xanh um lá, lấp ló những quả vàng tròn trịa đong đưa, rung rinh trong gió.

Mùi hương lan ra rải đều khắp các ngóc ngách làng quê. Chim muông bay về kêu thánh thót, chúng tấu những thanh âm hân hoan, rộn rã. Lũ trẻ nhỏ đứng dưới gốc thị cổ thụ ngẩng đầu dõi đôi mắt trong veo vào những đốm vàng mê hoặc. Và rồi đốm vàng tròn xinh, thơm tho ấy theo tay chúng về nằm ngoan ngoãn nơi đầu giường, hương thơm theo vào cả trong những giấc mơ.

Đêm thu, vầng trăng tròn vành vạnh tỏa ánh sáng mát mẻ xuống khu vườn xào xạc lá. Đêm mùa thu thật êm ả. Màn đêm thanh tịnh khiến tôi nghe rõ cả tiếng quẫy của chú cá dưới ao bèo. Bà trải tấm chiếu ra ngoài hiên, bà ngồi hứng lấy ánh trăng, quết vôi têm trầu rồi nhai bỏm bẻm. Rồi bà nhẩn nha kể những câu truyện cổ tích. Tôi thường đòi bà kể đi kể lại truyện Tấm Cám.

Tôi nằm nghe bà kể, tôi nghe say mê như đang uống lấy từng lời. Và tôi đã bao lần thiếp đi lúc nào không biết. Trong giấc ngủ êm đềm, tôi thấy cô Tấm xinh đẹp, dịu hiền chui ra từ quả thị của tôi. Tấm đến bên tôi, lấy bàn tay với những ngón thon nhỏ, trắng trẻo vuốt vuốt tóc tôi. Vẻ dịu dàng của cô làm tôi thấy mến cô vô bờ. Tôi nằm im để tận hưởng cái cảm giác êm đềm từ bàn tay cô. Tôi sung sướng hít thật sâu hương thơm tỏa ra từ thân thể của người thiếu nữ.

Tôi đã định nói rằng, cô Tấm ơi! Cô rất đẹp, nhưng tôi sợ cô sẽ biến mất, lại thôi. Nhưng rồi cô bỗng mờ tan ra như những mảnh pha lê lấp lánh, tôi hốt hoảng gọi to: “Cô Tấm ơi! Đừng đi!”. Chợt có tiếng bà gọi tôi, tôi choàng tỉnh, ngồi bật dậy hỏi bà: “Bà ơi! Cô Tấm đâu rồi?”. Bà phát vào mông tôi và hỏi lại: “Cô Tấm nào? Cha bố cái thằng cứ ngủ mê suốt. Thôi, ngủ đi cháu”. Tôi nằm xuống bên bà và thầm tiếc cho giấc mơ của mình. Tôi khua tay sang bên cạnh gối, quả thị vẫn còn đấy, nó tỏa ra mùi hương thật êm đềm đưa tôi chìm vào một giấc ngủ thật say.

Tôi thường hay bị ám ảnh với cô Tấm trong truyện cổ tích bà kể. Nhà bên có chị Mơ, năm ấy chị tròn mười sáu tuổi, chị rất xinh, lại ngoan hiền. Trai trong làng mê chị lắm, bao nhiêu anh cứ muốn làm thân với chị. Nghe mọi người nói chị Mơ đã chăm chỉ lại làm đồng rất khéo, các bà trong làng luôn ước ao chị sẽ là dâu nhà họ.

Tôi đã liên tưởng chị với cô Tấm, và tôi thầm gọi chị là cô Tấm. Vì những liên tưởng ngây thơ ấy mà tôi rất quý chị, chị có vẻ cũng rất mến tôi. Chị hay dành cho tôi những quả thị tròn và thơm nhất mà chị nhặt được mỗi buổi sáng sớm đi làm đồng. Những quả thị của cô Tấm nhà hàng xóm cho tôi rất yêu thích và giữ gìn thật kỹ. Một ngày kia, cô Tấm đi lấy chồng, chồng cô là anh Tâm làng bên. Anh Tâm khoẻ khoắn, đẹp trai rất xứng với chị Mơ, tôi cũng mừng cho chị. Và tôi tin, những người tốt, hiền lành, thật thà như chị Mơ sẽ gặp được những điều tốt đẹp…

Mùa thu đang về trên phố làm cho không gian tươi mát và trong lành hơn. Sau những giờ làm việc mệt mỏi và căng thẳng, tôi tản bộ dưới hàng cây cho lòng mình dịu lại. Hương hoa sữa đầu mùa gieo vào gió nồng nàn bủa vây tôi nhưng nó khác hẳn với hương thu trong thời thơ ấu. Rõ ràng cùng là hương thu mà lại hoàn toàn khác biệt. Hương cổ tích nơi làng quê yêu dấu luôn gợi lại trong tôi những cảm xúc ngọt ngào. Liệu có ai gửi được mùi hương ấy ra phố không?

Truyện cổ tích thì chỉ dành cho trẻ con. Thế mà giờ đây tôi cũng vẫn yêu thích những câu chuyện ấy. Mùa thu hiện tại mặc dù đã khác xa mùa thu trong ký ức nhưng hương thị từ nơi quê nhà, hương thị của miền cổ tích vẫn nhẹ nhàng thoang thoảng thơm mãi hồn tôi!

Thu của người đàn bà với giấc mơ hoa cải vàng bên sông

Có một ngày ta tỉnh giấc. Tỉnh lắm vì đêm qua đâu chợp mắt. Ta nhìn cánh rèm cửa sổ đen mù mịt và mường tượng ngoài kia ánh nắng đã lên cao.

Có một ngày ta tỉnh giấc. Không đồng hồ báo thức. Không chó. Không mèo. Nỗi buồn chỉ của riêng ta. Có một ngày ta tỉnh giấc. Thấy mình đang yêu. Muốn mở tung các cánh cửa. Tâm hồn, trái tim và mọi cánh cửa vẫn còn khép kín. Ta nhìn thấy hồng cười. Ta nhìn thấy nhân gian rộng mở. Ta mơ.

Có một ngày ta tỉnh giấc. Mon men kéo nhẹ cánh rèm cửa sổ như bức tường giấu hồn ta vào một thế giới cô đơn. Ta chạy lùi, chui đầu trở lại dưới chiếc mền bông để tránh cái chói chang lóe mắt của nắng. Ta sợ. Sợ cái ánh nắng kia liếm vào màn đêm, nơi ta thực sự là ta. Sợ cái nắng kia kéo ta lao sầm vào cơn say mùa hạ.

Có một ngày ta tỉnh giấc. Tư lự, rồi cũng đủ can đảm đặt các ngón chân trên những viên gạch đỏ mọng của ban công. Những cánh hồng tàn rụng tan tác, cong mình trong nắng mai. Những gai hồng vẫn xanh mướt như chưa bao giờ biết đếm thời gian. Ta lượm vài cánh hồng rơi và mơn trớn chiếc lá cuối cùng thoi thóp cố bám vào cành khẳng khiu. Một giọt máu đỏ tươi từ từ lăn vào lòng bàn tay. Máu của gai hồng? Máu của tim ta? Giọt máu ngậm ngùi nuốt tia nắng ban mai và chuyển sang màu thâm tím. Cây bông dai khô cằn, thân gầy hốc hác.

Những chiếc lá non xanh đã bỏ đi từ mùa đông năm ngoái và rồi lãng quên cả mùa xuân. Những chiếc lá lãng du để thân bông dai buồn nhớ lá đến héo hon. Có biết bao ngày ta tỉnh giấc và ngẩn ngơ với câu hỏi cùng quẫn.

Ta là ai? Ta đợi câu trả lời từ bức họa chép chân dung Van Gogh bịt tai lặng thinh. Chiếc quần lót đỏ chót và đôi tất mỏng tang mầu da vẫn nằm ẹp dưới sàn gỗ. Mọi vật bên ta đều tĩnh. Cả câu trả lời cho câu hỏi kia cũng chỉ là một sự im lặng tuyệt đối.

Chỉ còn ánh nắng xuyên cửa kính cứ co dần, co dần và thoát sau cánh cửa sổ đóng chặt. Tiếng động duy nhất là tiếng tích tắc của thời gian. Có bao ngày ta nhớ làng, nhớ quê của con sông uốn lượn chạy mướt tầm mắt.

Tranh sơn dầu: Đặng Can

Ta hoài niệm mơ hồ về một tuổi thơ mờ ảo đến mức ta phải mổ xẻ tâm gan mới tìm được một vài vụn vặn của kỷ niệm. Những nỗi nhớ cồn cào, đầy ăm ắp đổ về để ngập lụt lòng ta không còn chỗ cho các món nợ hồng trần. Có một ngày ta tỉnh giấc, thu ướt mềm mi. Thu về? Đêm qua ta đã quên không khép lòng để cái heo may ùa vào, thổi lạnh tấm mền bông. Ta vẫn bay theo những giấc mơ cùng một xuân vội qua, một hè lặng tan. Thu len lỏi vào hồn ta đang mở nhẹ.

Tiếng trống trường bập bùng trong lồng ngực căng phồng của sớm mai. Xa rồi tuổi cắp sách băng qua các vựa lúa tuổi cốm thơm ngát khi thu về. Còn đâu những cánh cò níu bước chân ta về với khó rơm tỏa ấm ngôi nhà núp dưới rặng tre. Muôn vạn vật sinh ra đều có một cái tên. Và cả ta nữa. Thu. Nghe thấy xanh biếc lòng như bầu trời cao. Thu đẩy xa các mùi hăng nồng nàn của đám hoa dâu da xoan để đón nhận mùi hoa sữa lặng lẽ trong đêm. Những cánh hoa lưu ly ngấp ngó bên cửa sổ.

Ta ép lòng cầu cho đông đừng đầy thu đi. Đồng hoa cải vàng chập chờn vờn tà áo cưới trắng muốt của những cô gái ven sông. Hồn ta quện vào thu. Có một ngày. Ta. Tỉnh giấc. Đơn côi. Trống trải. Ta đau. Ta tìm vết đau. Không thấy. Ta tự hỏi liệu hạt cát ta còn nóng rát dưới chân ai. Liệu mắt ta còn thiêu những trái tim nguội lạnh. Liệu ai đó có hiểu tiếng lòng nặng câm của ta?

Có một ngày ta mở cửa tâm hồn và chỉ mình ta với ta. Ta ôm cả mùa thu ấm áp cùng những bông cúc vàng mềm dịu nỗi cô đơn. Mái tóc vương nhẹ vào kim đồng hồ thời gian vừa điểm ba giờ chiều. Ẩn náu đằng sau cái óng mượt ánh nâu tím của sợi tóc kia là một màu muối. Mặn dần cùng thời gian. Cánh hoa ly trắng muốt lặng nhìn ta trong một không gian chiều tím thiếu dương.

Thời gian vẫn lặng trôi, dù biết bao ngày ta cố tình lơ đãng trước những trang lịch. Thu về cùng ngọn gió heo may làm làn da mặt se lại, thu tìm cách đẩy kẻ tấn công nhan sắc khỏi bắn khỏi chiếc gương hình ô van mờ ảo. Thu nắm tay ta chạm vào con số năm mươi. Thu lột xác, khoác lên mái tóc ta một năm thời gian. Ta lột bỏ xiêm áo, để mặc tia nước nóng ran ve vỡn cái ngưỡng cửa năm mươi của kẻ đơn chiếc. Tấm thân trần ngụp lặn trong thấp thỏm mơ một vạt áo dài trắng vờn bay vàng hoa cải bên bờ sông quê.

Thu – Merseburg 

Hà Nội vào thu

Hà Nội vào thu, như cô gái Hà Thành đổi mùa trong ngõ vắng. Ai thề lên tóc, ai nắng hảnh trời, ai chẳng nói chẳng rằng bối rối hoàng lan.

Kỳ thực mà nói Hà Nội vào thu mê man như một chốn tình, nương náu vào đó nào bóng dáng giai nhân, nào sắc màu cọ vẽ, nào thơ bay bóng hạc, nào tình ca trỗi lên những đêm vàng. Bởi vậy mà Hà Nội vào thu khối kẻ hầu người hạ, chiêm bái, mê cuồng. Nói vậy, không lẽ Hà Nội vào thu lại trở thành một thứ tín ngưỡng ư? Lạ thay!

Một ngày te tái, chiều thu biên ải của hai mươi nhăm năm về trước tôi ngược hoàng hôn bồn chồn nán lại Long Biên, một thân cầu mà những mố cầu cuốc sâu vào lịch sử. Từ trên cao, từ trên những thành cầu sắt nhấp nhô như vảy rồng, tôi phi hồn xuống dòng sông mùa thu, tôi lơ lửng bát ngát bãi bờ, ngờ ngợ một chút phù sa cuối mùa còn dư vị ngọt ngào yên thản sông trôi. Sông trôi về đâu mà dòng quanh dòng co, sông vắng ở đâu mà xanh rì xanh rào bờ bãi, sông ngủ ở đâu, sông thức ở đâu mà khẽ khàng vàng nhẹ lên Thành? Hà Nội vào thu như một dòng sông.

Cảnh tượng Hà Thành mở mắt thấy bầu trời, cúi mặt thấy sông trôi, khua tay dang chân thấy mình như đang cưỡi rồng khiến lòng tôi hăm hở. Và Hà Nội vào thu đã trở thành một thứ tình đầu mải miết, tôi ôm riết những vòng xe. Cưỡi trên chiếc Peugeot made by Thái Bình ngày ấy tôi đổ dốc bên kia cầu, dư thừa năng lượng mà xô gió, mà giật tóc, mà chớp mắt, mà ngẩn ngơ giai nhân. Không ở đâu và ở đâu tình cờ mà yêu thương bất ngờ như thứ mùa chuếnh choáng tôi đang bươn vào thuần chủng. Hà Nội nào thu.

Hơn một thế kỷ mùa thu gói ghém gia tài của nó rồi hồn nhiên nhảy tâng tâng qua cầu, nó ôm sát con đường bờ đê, nó buông tay cho gió thổi, nó sà vào cửa ô đầu ngõ rồi lê la quán xá, nó ngưng thở bao trùm lên những vòm hoa sữa chơm chớm xanh, ngan ngát mong manh.

Mười tám tuổi đầu, tôi cũng gói ghém gia tài của mình, chập chững từ yêu thương này đến ngơ ngác những phồn hoa kia. Mùa thu Hà Nội như một bản nhạc báo thức đã reo vui âm hiệu của một tâm hồn. Xuyến xang những con phố trải dài gân trời, ngân ngất những vòm hoa trắng trắng xanh xanh, mơ màng lơ làng như một cung đàn xưa, để tôi nhớ dòng lưu bút của người bạn văn một thời: “…Này em! Trở thành người Hà Nội, có hoa sữa Nguyễn Du, em đừng quên đường Trưng Trắc quê mình…”

Hẳn là thế, Hà Nội vào thu luôn tạo cho người ta những lơ đễnh đáng yêu để đôi khi giật mình thảng thốt mà biết mình còn tồn tại trên đời. Màu cốm xanh Vòng, màu hồng ngả đỏ, màu sấu nâu trầm tư, giòn tan, cả những loài hoa đã làm nên yêu thương mùa thu Hà Nội. Nhưng với tôi Hà Nội thu không phải là “hoa sữa nồng nàn đầu phố đêm đêm”, cũng chẳng phải nơi tôi buông hồn chu du trên cây cầu thế kỷ. Đó là những khoảng trời gan ruột tôi để lại Hà Thành, tôi giấu ở Hà Thành, tôi lên men ký ức ngọt ngào mùa thu. Hoa hoàng lan gió ru…

Một ngày, nắng còn ấm áp là vậy mà gió đành lòng lạnh lùng đến thế, heo may thở dài len lỏi từ cửa sổ căn gác nhỏ tới con phố Điện Biên Phủ. Chẳng phải căng tai đã nghe lá cuộn mình gợn nhạc đêm sâu. Chẳng phải hít hà đã nghe hương hoàng lan ngọt như những đoạn tình vụng dại tha thẩn trên Phan Đình Phùng, Chu Văn An, Đội Cấn, Đại Cồ Việt, Tô Ngọc Vân… Hương hoàng lan chẳng ồn ào, hương hoàng lan không day dứt, hương hoàng lan không khiến người ta chùng lòng, nhưng lạ kỳ thay hoàng lan lại chọn mặt gửi vàng cho những rung cảm yêu thương. Bởi vậy người không tình khó lòng mà nhận ra chiều sâu bất tận của thứ hương bắt đầu trỗi lên bản giao hưởng Hà Thành vào mỗi buổi chiều chập choạng ánh vàng.

Vẫn là lạ thay hoàng lan không chọn chỗ đông người, nó thường thả tâm tư vào mỗi góc phố lắng, mỗi con đường vắng, hay đơn giản chỉ là những ngõ cùng hẻm cụt yêu thương. Khi buổi chiều xanh xao, hoàng lan nhấp nháp vào không gian thứ mùi hương lơ đễnh, tưởng chừng chỉ một chút nắng tàn hay một manh gió thoảng cũng đủ sức giết chết một hồn hoa mơ màng.

Khi những sương khuya còn chờ ánh sao mờ, khi những tình tự nhấm nháy lên ngôi, hoàng lan hương sà sạt hương, từng cánh từng cánh chín những tơ tình cứ vàng lên ngời ngợi nhớ thương mê mải. Ai đã đã đi giữa những con phố nhỏ khuya khoắt Hà Thành, mùa thu giăng bẫy hương mê, cái thứ mùi hoàng lan mấy chục năm trời tôi không gọi nổi tên, chỉ biết là yêu đến mê cuồng.

Buổi ấy, có những ngày tôi vạ vật mùa thu, chạy xe từ những ngõ ngách vùng Thanh Xuân nơi tôi trú ngụ, trôi dạt vào những mê cung Quan Hoa Cầu Giấy, tay vác sào ngửa cổ ươm trời bẻ từng chùm hoàng lan tình tứ mà lén cài lên mái tóc một cô gái Hà Thành. Hoàng lan như một thứ bùa yêu, nó lây lan từ tâm tưởng kẻ này đến truyền đời kiếp kiếp kẻ kia. Vụng dại mà yêu, nhiệt thành mà đến, và khát khao thì ở lại. Tiếc thay đó chỉ là những cảm xúc đầu đời. Vậy nên với tôi, Hà Nội vào thu luôn là những tháng ngày nhớ thương day dứt.

Một ngày, cũng dịp vào thu, Hà Nội ngắm vuốt những nỗi buồn dịu dàng, tôi nhận được một cuốn sách nhỏ của Robert James Waller, giữa trang sách có ép một cánh hoàng lan cùng lời đề tặng chẳng giống một lời đề tặng nào: “Huy! Có thể một đời thương nhau, có thể một đời như không…” Tôi đã không thể đi tới định mệnh với ‘Những cây cầu ở quận Madison’. Đó cũng là lý do tại sao mà tôi luôn bị ám ảnh bởi những thân cầu, và dĩ nhiên Hà Nội vào thu năm nào chẳng vậy, hoàng lan vẫn vô cớ trải bùa cho những thương tận yêu tàn mà vẫn bình thản xanh chiều, vẫn ngọt vàng đêm đêm. Tôi nhớ ngày ấy mình đã viết một ca khúc mê tơi tình sầu: “Thương nhớ hoàng lan”

 

Hương cau ngan ngát vườn quê

Đêm thu, trăng tưới khắp vườn quê những thanh khiết, dịu dàng làm lòng tôi cũng mềm mại theo. Gió se sẽ lướt êm trên sóng lá làm cho những mảng đêm chuyển động nhịp nhàng. Tôi yêu lắm những đêm quê như thế.

Tôi mang ghế ra góc sân, ngay lối đi ra cổng để tắm trăng, uống gió, nghe tiếng côn trùng kêu rỉ rả và nhất là để hít căng lồng ngực hương quê. Tôi nghe trong gió ngan ngát hương cau, mùi hương vừa quen vừa lạ. Quen vì tôi sinh ra và lớn lên ở quê nên từ nhỏ đã được thưởng thức mùi hương đó.

Còn lạ là vì lâu rồi tôi mới có khoảng thời gian lắng mình tìm lại cảm giác bình yên để thấy lại mùi hương cũ. Cuộc sống mưu sinh nơi thị thành đã biến tôi thành một loài lưỡng cư nửa quê, nửa phố tự lúc nào. Thế là những chuyến về quê chớp nhoáng đã chẳng để cho tôi kịp định dạng mình thành một kẻ nhà quê. Bởi thế, những cảm giác, cảm xúc về quê nhà dường như chẳng còn lại gì ở nơi tôi.

Đêm nay yên ả quá! Hồn tôi nhẹ như cơn gió, êm ả như mây trời. Tôi cảm được hương cau nhẹ lướt qua cánh mũi mình, rồi theo hơi thở lan đều khắp cơ thể tôi ngọt dịu và êm ái mênh mang. Cái cảm giác khoan khoái ấy đã rũ bỏ hết những mệt mỏi, ưu phiền của cuộc sống đời thường, đưa tôi đến miền thanh tịnh thần tiên kỳ diệu. Nó thanh lọc tôi khỏi những u uẩn, ham muốn, tính toan… của cõi người, làm trong trẻo hồn tôi.

Hồi nhỏ, vào buổi sáng tôi thường lon ton theo bà ra vườn nhặt những quả cau rụng sau những đêm mưa gió. Bà ngước lên ngọn cau nhìn buồng cau sai xúc xiểng, mắt bà nheo nheo như cười. Phía trên buồng quả ấy đã bung ra một nhánh hoa cau mới, hoa cau lấm tấm màu trắng ngà trông thật đẹp.

Hoa cau rụng như vãi gạo dưới gốc làm mấy chú gà con tranh nhau mổ, nhưng rồi chúng nhận ra không phải là gạo, mắt tròn ngơ ngác chạy theo mẹ, kêu chiêm chiếp. Bà nhìn buồng cau mà lầm dầm: “Được mùa cau, đau mùa luá. Chẳng biết ông trời có thương…” Tôi thì hồn nhiên: “Được mùa cau để bà tha hồ ăn trầu”. Bà tôi xoa đầu tôi, lắc lắc: “Đúng là trẻ con. Tôi tha hồ cau để ăn trầu thì nhà anh tha hồ đói”. Tôi hồn nhiên cười trong veo vì tôi trả biết những trở trăn, lo lắng của người lớn.

Hoa cau rơi xuống tóc tôi, tóc bà và đọng hương thơm ngan ngát. Tôi hít lấy hít để như sợ hương bay đi mất. Gió kéo hương rong chơi khắp vườn làm không khí trở nên thanh mát và hiền lành. Hoa cau đậu quả, những quả cau cùng lá trầu có mặt trên bàn thờ của các gia đình trong những dịp lễ, tết, cưới hỏi, giỗ chạp… là vật trung gian, cùng với hương nhang kết nối tâm linh giữa người sống với tổ tiên và người quá cố.

Cau trầu cũng có mặt ở đền, chùa, miếu mạo giúp con người bày tỏ lòng thành, ước vọng và sự tôn kính của mình đối với đức Phật và các bậc thánh thần… Cau đã thật gần gũi với con người qua bao thế hệ, là một điều không thể thiếu trong đời sống, mặc dù ngày nay chẳng mấy ai ăn trầu.

Bà tôi đã ở tuổi xưa nay hiếm, nhưng bà vẫn khoẻ ăn trầu lắm. Mỗi lần về quê, thấy bà ngồi ăn trầu bỏm bẻm, tôi lại giật mình mường tượng ra một ngày nào đó sẽ chẳng còn bà ngồi ăn trầu như thế. Và rồi chợt lo sợ vì lí do đó mà cau sẽ chẳng có cớ để tồn tồn tại nữa. Rồi hương cau sẽ chỉ còn lại ở trong những giấc mơ. Ôi! Hình như tôi tôi đã lo lắng quá xa xôi rồi. Ở quê bây giờ nhà nào chẳng trồng vài cây cau. Hương cau vẫn ngan ngát thơm một cách thiết tha, như muốn nói rằng chúng sẽ mãi mãi tồn tại ở trên đời. Và tôi tin điều ấy, như tin những mộc mạc, thanh bình, thật thà, trong sáng ở nơi quê sẽ còn mãi, như muôn đời nay vẫn thế!

Nỗi buồn tháng ba và mùi hương bưởi

Nàng mơ về một chùm hoa đủ bảy gam màu sắc. Nỗi buồn tháng ba và mùi hương bưởi. Một chùm hoa tỏa hương ấm áp không vô tâm lỡ hẹn với ngày Tám và vợi đi cái buồn của tháng Ba.

Mưa vẫn tí tách buồn rơi mỗi khi đêm về. Mưa tháng Ba. Hồn nặng trĩu khi hương bưởi bị làn mưa chà đạp chạy xộc vào mũi. Lay lắt cành bưởi đung đưa nhẹ theo gió, chào vĩnh biệt mùa Valentine. Xa rồi cái Tết. Lời ước nào đã đến với nàng? Hỡi ơi tháng Ba. Chắp tay lạy ngày Tám! Ngày của nàng đó. Điều diệu kỳ dù chỉ mong manh sẽ đến? Giờ nàng vẫn ngậm ngùi nuốt hạt mặn và tự an ủi rằng nàng không phải là mụ đàn bà đơn côi duy nhất trên đời. Một tuần thời gian có đủ thay đổi thân phận một người phụ nữ?

Nàng mải mê ngắm nhìn vô vàn cánh hoa bưởi trắng ngà rơi lã chã để lộ hình hài những trái bưởi non tơ nhỏ xíu như đầu vú của con gái tuổi mười tám. Mật ngọt quện phấn vàng cộng nước mưa, nhầy nhậy đọng trên trái bưởi hài nhi, nhơn nhớt, hăng hăng như hậu cuộc tình.
Nhắm mắt hít một hơi thật sâu để chống lại cái ngào ngạt đến thái quá của hương bưởi, để lục lại trong tiềm thức cái hương tinh tế thấu vào bát tào phớ, cái hương lảng vảng trên các viên bánh trôi rắc vừng.

Rồi đêm tháng Ba vẫn cứ ào ào đổ xuống. Cái ẩm ướt thấm vào từng lỗ chân lông, bám vào mái tóc lác đác vài sợi ngả bạc, những sợi tóc bị khuất phục trước thời gian.
Nàng mơ màng xa xăm những ngày hè nóng bỏng. Mơ trăng hè toả sáng khiêu khích những tiếng ve sầu kêu rát họng để thoát xác, đổi đời. Mơ cánh phượng vĩ thả mình kiêu sang khoe mẽ trong màu đỏ máu của hoa.

Không chịu nổi cái ẩm thấp hôi người của đêm tháng Ba, nàng trần mình dưới làn nước của vòi tắm. Mái tóc như vô tình đùa rỡn với bờ vai, hôn hít lên hai đồi vệ nữ. Nàng đắm sâu vào cõi mơ.
Người nàng yêu chợt đẩy cửa nhẹ nhàng.
– Anh có vào được không?
Nàng thẹn thùng lấy hai bàn tay che đậy bộ ngực nóng hổi, căng tròn. Làn mi ướt đẫm. Nước vẫn xối xả tuôn.
Một sự khao khát được yêu làm tăng nhịp đập con tim.
– Vào đi anh!
Một sự đồng ý, một lời chào, hay một lời cầu khẩn?
Chàng để lộ một thân hình rắn chắc. Đôi vai vuông vức. Chiếc quần đùi lưỡng lự nhẹ rơi, lướt qua bắp đùi lực sĩ, lộ ra trước mắt nàng một sức mạnh của yêu đương. Nàng quay tấm vai trần để đón nhận sự ấm áp của những tia nước, hít sâu vị ngọt ngào của dầu tắm. Thổn thức. Lâng lâng.Lạnh! Nàng vô tình đẩy mạnh cần gạt nước sang một bên. Nước lạnh tuôn trào. Bừng tỉnh. Chàng đã không có ở bên nàng. Cửa buồng tắm vẫn cài chốt chặt bên trong. Ánh đèn vàng nhoè nhoẹt, mờ ảo trong hơi nước. Nàng choàng vội chiếc áo ngủ sa tanh màu hồng lên cơ thể còn ướt sũng. Chiếc áo ngủ dính sát vào làn da. Lạnh thấu thịt.

Một ý nghĩ thoáng qua: ngày mai nàng sẽ đi mát xa và xuống tóc. Không chỉ đàn ông mới được quyền đi mát xa. Nàng cũng không có ý định xuống tóc đi tu, không chạy trốn khỏi cuộc đời, không kìm hãm đê mê. Nàng cần sự thay đổi.

Nàng sẽ thả mình để mặc cho đôi bàn tay điêu luyện của người thợ mát xa, bất kể đàn ông hay đàn bà nắn bóp, nhào nặn cơ thể nàng hàng giờ. Đau nhức. Sung sướng.
Nàng sẽ cần anh thợ cắt tóc uốn lượn quanh nàng, chuyên nghiệp với năm bảy chiếc kéo trong tay. Chỉ trong nháy mắt, anh thợ “bóng lộ” đã hạ xong mái tóc dài như liễu hồ để gom lượm lại mười năm trên mái tóc của nàng, biến nàng thành một cô gái đầy cá tính, có thể hơi ngáo ngược.

Thu mình trong mền đông, nàng ngắm nhìn những ánh mắt ngây thơ của các con thú nhồi bông, chúng ngồi chỗm chệ trên những cuốn tiểu thuyết miêu tả hằng hà sa số thiên tình sử và những cuộc tình đẫm nước mắt.

Một cơn gió lùa lay nhẹ cành hoa chân chim tím, nàng nhận ra đã quên không đóng cửa mở ra ban công, nơi những cành bưởi rung rinh rũ xuống những cánh hoa tàn nhưng hương lại nồng nàn khi các làn mưa bụi bỏ đi.

Kéo cái mền bông lên cao quá cổ, giảm ánh sáng của ngọn đèn ngủ, nàng mơ về một chùm hoa đủ bảy gam màu sắc. Một chùm hoa tỏa hương ấm áp không vô tâm lỡ hẹn với ngày Tám và vợi đi cái buồn của tháng Ba.

Thương nhớ bóng tre

Mỗi lần về quê, bước trên con đường làng đổ bê tông sạch sẽ, trên đầu bỏng rát vì nắng mà thấy thương nhớ bóng tre. Những thân tre hai bên đường ngả vào nhau che cho ngõ quê, đường làng mát rười rượi vào những ngày hè đâu còn nữa?

Những rặng tre xanh từ lâu đã là biểu tượng, là linh hồn của làng quê Việt. Quê tôi cũng thế, những rặng tre xanh mướt có mặt khắp nơi trong làng, nhà ai cũng có ít nhất một bụi tre. Dù sống ở đâu, trên đồi, ven đê hay dọc đường làng thì tre vẫn xanh lên một sức sống bất diệt; tre chen chúc đông vui, tre níu với nhau mà sống như thách thức với nắng cháy, mưa giông.

Chẳng biết tre đã có mặt ở làng từ bao giờ? Chẳng ai trả lời được, nhưng có một điều chắc chắn là tre đã gắn bó và thân thiết với bao lớp người dân quê tôi. Đối với người nhà nông, tre thực sự hữu dụng, bởi nó là nguyên liệu làm ra đủ thứ đồ nghề phục vụ cho nông nghiệp. Tre đã hiến thân mình để làm thành chiếc lạt bó lúa dẻo dai. Tre là cây đòn gánh cho các bác nông dân gánh lúa về nhà.

Tre là cán cuốc, cán xẻng giúp cho người ta làm đất trồng cây, vun xới hoa màu. Tre hóa thành chiếc gầu sòng tát nước cho cây lúa lên xanh. Tre là cái bồ đựng thóc cất giữ mùa màng, cất giữ niềm vui của mẹ trong căn nhà ấm cúng. Tre là cột, là vách, là đòn tay, rui mè để làm nên ngôi nhà che mưa, che nắng cho bao tổ ấm nơi làng tôi… Ôi! Kể bao giờ cho hết những ân nghĩa mà tre đã mang lại cho con người, kể bao giờ cho hết những kỷ niệm dưới bóng tre làng! Tôi chỉ biết đem lòng yêu những bóng tre, như yêu những người thân thuộc, như để tìm lại bình yên trong cuộc sống bộn bề.

Nếu như chỉ có bấy nhiêu thôi có lẽ là sẽ rất giống với những câu chuyện mà người ta thường kể về tre ở quê mình. Nhưng với tôi, tre còn có điều đặc biệt khác, có một thời tre đã từng là cứu cánh của không chỉ nhà tôi, mà là của cả xóm tôi.

Ngày ấy, quê tôi là một vùng quê nghèo. Đồng ruộng làng tôi là vùng chiêm trũng chỉ cấy được một vụ lúa, vụ còn lại nước ngập trắng đồng, vì thế mà thường xuyên thiếu đói. Cũng may, ông bà để lại cho một nghề, ấy là nghề đan lát. Nhờ những chiếc thúng, cái rổ, cái bu, cái sọt mà người dân quê có tiền đong gạo, có cái để cậy nhờ những khi túng đói. Đấy, thế là tre đã thực sự quan trọng với những con người ở xóm đan lát chúng tôi.

Thời ấy, những ngày nông nhàn cả mấy chục nóc nhà lá vang lên rộn ràng tiếng chẻ tre, tiếng gõ phên thúng làm nức lòng người. Những thân tre ngả xuống ào ào, mỗi thân tre lìa gốc lại nảy lên hi vọng về những bữa cơm no, mỗi thân tre bị dao chẻ toang toác nở ra những tiếng cười giòn tan hớn hở. Cũng may, tre biết thương người nghèo nên tre sinh sôi đông đúc, cứ mỗi cây mất đi lại trồi lên măng non, rồi măng lại lớn lên thành tre. Cứ thế, tre đã tồn tại và cưu mang con người, nuôi lớn những đứa trẻ quê như chúng tôi.

Sau mỗi đợt mẹ đi chợ bán thúng, hũ gạo nhà tôi lại đầy lên, chúng tôi lại có những chiếc kẹo bột, kẹo lạc ngọt cả chân răng để cười đỏ lợi. Bố tôi ngồi khoan khoái thả khói thuốc lào bay lên nóc nhà, mẹ tôi thì hí húi với vại lạng thịt lợn trên thớt. Chỉ một lúc thôi, sau làn khói bếp là mùi thịt thơm lừng. Bụng mấy anh em chúng tôi sôi lên èo èo, chúng tôi nheo nhéo đòi ăn cơm. Mẹ từ trong bếp chạy ra dụi mắt và lau mồ hôi. Mẹ dúi vào tay anh em tôi cái bát có mấy miếng tóp mỡ, bảo anh em tôi ăn tạm.

Ngoài góc vườn, những cây tre bị gió xô vào nhau kêu kẽo kẹt, những ngọn tre gật gù trêu đùa chúng tôi. Trên thềm, bố đã cưa một thân tre ra nhiều đoạn bằng nhau để chuẩn bị chẻ nan đan thúng cho phiên chợ sau. Đó chính là những kỷ niệm đặc biệt của tôi về tre trong những ngày xưa cũ, những kỷ niệm ấy chắc sẽ chẳng bao giờ tôi có thể quên.

Mỗi lần về quê, bước trên con đường làng đổ bê tông sạch sẽ, trên đầu bỏng rát vì nắng mà thấy thương nhớ bóng tre. Những thân tre hai bên đường ngả vào nhau che cho ngõ quê, đường làng mát rười rượi vào những ngày hè đâu còn nữa? Một cảm giác nhớ thương ùa về làm lòng tôi nao nao.

Chợt từ đâu xa lắm vang lên tiếng cười của một đứa trẻ quê. Tôi thấy chú bé ấy cùng với lũ trẻ trong xóm đang chơi đùa dưới bóng tre râm mát, có đốm nắng lọt qua kẽ lá nhảy nhót trên nền đất làm chú bé thích thú. Ai thế nhỉ? Quen quá!… Và thế là tôi lại thèm được trở lại những ngày xưa, để làm chú bé chơi đùa dưới bóng tre xanh của làng quê êm ả.

TÁC GIẢ

Chu Văn Sơn
7 Bài viết0 BÌNH LUẬN
Công Hiếu
1 Bài viết0 BÌNH LUẬN
Đào Phi Cường
3 Bài viết0 BÌNH LUẬN
Avatar
124 Bài viết1 BÌNH LUẬN
Hoài Hương
4 Bài viết0 BÌNH LUẬN
Hoàng Anh Tuấn
2 Bài viết0 BÌNH LUẬN
Lê Minh Hải
3 Bài viết0 BÌNH LUẬN
Nguyễn Ngọc Tư
6 Bài viết0 BÌNH LUẬN
Phạm Phương Thảo
4 Bài viết0 BÌNH LUẬN
Phạm Thùy Vinh
18 Bài viết0 BÌNH LUẬN
Thuy Nga
2 Bài viết0 BÌNH LUẬN